phần mở đầu, kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chƣơng 1: Những nhân tố tác động đến sự thay đổi chính trị ở Myanmar từ 2010 đến 2015. Trong đó nêu khái quát các thông tin cơ bản về Myanmar như điều kiện tự nhiên; lịch sử hình thành và phát triển; các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội; Lộ trình dân chủ 7 bước: hình thành và 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển khai thực hiện; nhất là về những nguyên nhân bên trong và bên ngoài tác động đến sự thay đổi chính trị ở Myanmar. Chƣơng 2: Những thay đổi về đối nội và đối ngoại ở Myanmar từ 2010 đến 2015. Trong đó, tập trung đi sâu phân tích, làm rõ những thay đổi về chính sách đối nội và đối ngoại của Myanmar từ năm 2010 đến nay.
Đồng thời,đưa ra những thuận lợi và khó khăn đối với quá trình cải cách chính trị của Myanmar trong những năm tiếp theo. Chƣơng 3: Tác động của thay đổi chính trị ở Myanmar đến quan hệ quốc tế và Việt Nam. Trong đó, tập trung đánh giá về những tác động của nó đến quan hệ với ASEAN, quan hệ của các nước lớn ở khu vực và quan hệ Việt Nam - Myanmar. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CHÍNH TRỊ Ở MYANMAR TỪ 2010 ĐẾN 2015 1.
Lịch sử chính trị của Myanmar 1. Lịch sử hình thành và phát triển Trước năm 1989, đất nước Myanmar hiện nay mang tên là Burma. Năm 1989, Hội đồng quân sự nước này đã đổi tên nước từ Burma thành Myanmar (tiếng Hán còn gọi là Miến Điện). Quá trình hình thành quốc gia dân tộc Myanmar là một quốc gia đa sắc tộc với 135 sắc tộc là phái hệ của 13 dân tộc khác nhau, mà chủ yếu là tộc người Miến, Mon, Shan, Karen, Chin, Kachin, Kayah, Arakan.Vào khoảng trước hoặc sau thế kỷ I, ở vùng đất Myanmar ngày nay có một số tiểu vương quốc: Phía Bắc có nước của người Shan (tổ tiên là người Tai hoặc Thái từ Vân Nam, Trung Quốc đến); phía Nam có hai tiểu vương quốc của người Mon (có nguồn gốc từ các vùng đất của Thái Lan và Combodia ngày nay), khoảng giữa những năm 900 trước công nguyên, họ thành lập hai vương quốc nhỏ là Pegu và Thaton.
Tại miền Trung và miền Nam Miến Điện còn có nước Phiêu của người Pyu. Sau nhiều triều đại tranh giành nhau trong hai thế kỷ đầu tiên của Pagan, một thủ lĩnh quân sự người Miến tên là Anawrahta đã trở thành vua của Pagan (1044 - 1077). Triều đại của ông được coi là Đế chế Miến Điện thứ nhất với kinh đô tại Mandalay và đánh giá sự khởi đầu của Miến Điện như một Nhà nước thống nhất về chính trị, được nhà Tống của Trung Quốc và triều đại Chola của Ấn Độ công nhận. Quá trình phát triển quốc gia dân tộc Thời kỳ Đế chế Miến Điện thứ nhất (1044 - 1551): Vua Anawrahta đã thực hiện một loạt các cuộc cải cách quan trọng trong lĩnh vực xã hội, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tôn giáo, kinh tế có vai trò ảnh hưởng lâu dài trong lịch sử Miến Điện.
Sự phát triển quan trọng nhất là sự ra đời của đạo Phật tiểu thừa sau khi chinh phục vương quốc Thaton vào năm 1057. Đầu thế kỷ XIII, vương quốc Pagan đã bị suy yếu trước sự bao vây của người Mon, Shan, Mông Cổ. Năm 1277, Mông Cổ bắt đầu xâm lược Pagan. Năm 1287, vương quốc Pagan bị những đạo quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt đánh bại.
Sau khi triều đại Pagan sụp đổ, ba thế kỷ tiếp theo là tình trạng phân tranh bất hòa, chia rẽ Miến Điện thành những quốc gia nhỏ. Đến giữa thế kỷ XIV, Miến Điện được chia thành 4 trung tâm quyền lực lớn: Thượng Miến Điện, Hạ Miến Điện, Shan và Arakan mà đại diện là vương quốc Begu của người Mon, vương quốc Shan của người Shan, vương quốc Arakan của người Arankan và vương quốc Ava của người Miến. Thời kỳ Đế chế Miến Điện thứ hai (1551 - 1752): Đế chế Miến Điện thứ hai được hình thành nhờ công lao của Bayinnaung (1551 - 1581), vốn là em rể và là người kế vị của Vua Tabinhshwehti. Từ đó, các quốc gia khác ở vùng biên giới Miến Điện - Trung Quốc và Manipur - nay thuộc Ấn Độ, hàng năm đã phải triều cống cho Miến Điện.
Bayinnaung đã duy trì một hệ thống hành chính vững chắc tại khắp các quốc gia chinh phục được. Tuy nhiên, sau khi Vua Bayinnaung mất năm 1581, Vương quốc Xiêm tuyên bố độc lập năm 1584 và tổ chức cuộc chiến tranh với Toungoo cho đến năm 1605. Cũng như giai đoạn trước đó, người nước ngoài nhất là người Ả-rập và Bồ Đào Nha rất tích cực thông thương với Miến Điện. Năm 1725, người Xiêm đã chiếm lại Chiang Mai; năm 1740 người Mon do Smingtho cầm đầu với sự hỗ trợ của Pháp đã tấn công và chiếm được Ava năm 1752, kết thúc hơn 200 năm của đế chế Miến Điện thứ hai.
Thời kỳ Đế chế Miến Điện thứ ba (1752 - 1885): Sau khi chiếm được Ava, người Mon cố sức kiểm soát Miến Điện cho đến khi Alaungpaya, một 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trưởng làng người Miến khởi nghĩa đánh bại họ. Sau gần 8 năm chiến đấu, Alaungpaya cuối cùng đã thống nhất đất nước và lập ra vương triều Konbaung năm 1759 - Đế chế thứ ba và là Đế chế cuối cùng của Miến Điện. Cuộc chiến tranh Xiêm - Miến Điện nổ ra từ năm 1760 - 1767, Xiêm đầu hàng, chấp nhận làm chư hầu cho Miến Điện. Sau đó giữa Miến Điện và Xiêm liên tục xảy ra các cuộc chiến tranh, nhưng không bên nào giành thắng lợi.
Năm 1824, dưới sự trị vì của Vua Bagyidaw Mahabandoola chiếm Assam, sát vùng thuộc địa của Anh ở Ấn Độ, gây nên 3 cuộc chiến tranh Anh - Miến Điện (1824 - 1826, 1851 - 1852, 1885 - 1886). Năm 1886 toàn bộ Miến Điện trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh. Thời kỳ là thuộc địa của Anh (1886 - 1947): Từ năm 1886, người Anh chiếm toàn bộ Miến Điện và sáp nhập thành một bang thuộc Ấn Độ và thực hiện nguyên tắc chia để trị, cho phép những nhà lãnh đạo địa phương cai trị các bang thiểu số. Ngày 02 tháng 3 năm 1935, Anh quyết định tách Miến Điện ra khỏi Ấn Độ, thành lập chính phủ Miến Điện thuộc Anh từ ngày 01 tháng 4 năm 1937.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai, Miến Điện là một mặt trận chính tại mặt trận Đông Nam Á, sau những thắng lợi ban đầu trong “chiến dịch Miến Điện”, năm 1943, Nhật bản chiếm đa phần lãnh thổ Miến Điện. Sau khi Nhật Bản thất bại, tháng 7 năm 1945 Anh đã chiếm lại toàn bộ vùng đất này và sau đó từng bước trao trả độc lập cho Miến Điện. Ngày 17 tháng 10 năm 1947, Thủ tướng Miến Điện và Thủ tướng Anh đồng ký tên vào bản hiệp ước công nhận nền độc lập của Liên bang Miến Điện. Thời kỳ đất nước giành độc lập: Ngày 04 tháng 01 năm 1948, Liên bang Miến Điện được thành lập và 4 bang vùng thượng Miến Điện.
Khác với đa số các thuộc địa của Anh, Miến Điện không trở thành một thành viên của Khối thịnh vượng chung, bởi vì họ đã giành lại độc lập trước khi Khối thịnh vượng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung ra đời. Một hệ thống chính trị lưỡng viện tại Miến Điện được thành lập gồm Viện đại biểu và Viện quốc gia. Sau khi giành được độc lập, Myanmar rơi vào tình trạng mất ổn định do những cuộc nổi dậy của các dân tộc thiểu số đòi tự trị. Từ tháng 3 năm 1948, Đảng Cộng sản rút vào hoạt động bí mật chống chính phủ tư sản.
Tháng 9 năm 1948, một bộ phận người dân tộc Karen đã nổi dậy chống chính quyền U Nu, nhằm tách khu vực của người Karen ra khỏi Liên bang Miến Điện và lập nên Nhà nước Karen tự trị với quân đội riêng. Trước xu hướng ly khai mới, Chính phủ U Nu không đưa ra giải pháp cụ thể nào. Nhằm ngăn chặn nguy cơ phá vỡ Liên bang do việc Chính phủ U Nu có thể cho phép người Shan và các dân tộc khác ly khai, ngày 02 tháng 3 năm 1962, lực lượng quân đội do tướng Ne Win đã tiến hành đảo chính. Cuộc đảo chính đã hủy bỏ chế độ dân chủ Đại nghị, từ đó quân đội kiểm soát quyền lực.
Năm 1974, bản Hiến pháp mới được thông qua và Miến Điện trở thành Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Miến Điện. Năm 1981, Ne Win thôi giữ cương vị Chủ tịch nước. Myanmar dưới thời của Tướng Saw Maung (1988 - 1992): Sau đảo chính, Đại tướng Saw Maung được Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Quốc gia (SLORC) bầu làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao.1989, SLORC quyết định đổi tên nước Miến Điện thành Myanmar với lý do không nên dùng tên do thực dân Anh đặt mà dùng tên gốc bản xứ.1988, SLORC công bố quy định về đăng ký thành lập các đảng phái chính trị để tham gia tổng tuyển cử. Trong các lực lượng tham gia tranh cử thì Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) có nhiều uy tín nhất, được đông đảo nhân dân ủng hộ.
Tuy nhiên, ngày 19 tháng 7 năm 1989, SLORC đã ra lệnh bắt giữ bà Aung San Suu Kyi với cáo buộc gây nguy hiểm cho thống nhất dân tộc và quản thúc bà tại 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà riêng.1990, cuộc tổng tuyển cử được tiến hành với sự tham gia của 2.392 ứng cử viên của hơn 110 đảng, theo đó: NLD đã giành chiến thắng với 392 ghế trong Quốc hội (chiếm 79,8%). Tuy nhiên, SLORC kiên quyết không chuyển giao quyền lực cho Quốc hội mới. Ngày 20 tháng 12 năm 1990, Chính quyền của Tướng Saw Maung ký lệnh giải tán đảng NLD, đồng thời ban lệnh giới nghiêm, bắt giam tất cả những ai chống đối. Trước tình hình trên, Liên hợp quốc (UN), Mỹ và các nước phương Tây đã thực hiện lệnh cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với Myanmar.
Myanmar dưới thời của Tống tướng Than Shwe (1992 - 2010): Ngày 24 tháng 4 năm 1992, Đại tướng Than Shwe lên thay Tướng Saw Maung, với uy tín và thực quyền trong quân đội, Than Shwe đã được Hội đồng tướng lĩnh Myanmar tôn làm thống tướng nắm toàn quyền lãnh đạo Quân đội và Chính phủ.