phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết: Chƣơng 1: Lý luận chung về giải quyết những vấ n đề xã hô ̣i nảy sinh khi Nhà nước thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p của nông dân trong thời kỳ quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hội. Chƣơng 2: Thực tra ̣ng giải quyế t những vấ n đề xã hô ̣i nảy sinh khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của nông dân tỉnh Hưng Yên hiện nay. Chƣơng 3: Quan điể m cơ bản, những nhiê ̣m vu ̣ và giải pháp cấ p bách nhằ m giải quyế t có hiê ̣u quả những vấ n đề xã hô ̣i nảy sinh khi Nhà nước thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p của nông dân tin̉ h Hưng Yên hiện nay. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1.
Quan niệm về vấn đề xã hội và mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1. Quan niệm về vấn đề xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo C. Mác, nghĩa rộng nhất của khái niệm xã hội là: “xã hội dưới hình thái nào, là gì? Nó là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người” [29, tr. Trên thực tế, các nhà kinh điển Mác-Lênin đã đồng thời sử dụng khái niệm “xã hội” theo nghĩa hẹp hơn, ngang cấp với khái niệm “chính trị”, “kinh tế”, “văn hóa”.
Đó là khái niệm “xã hội” phản ánh những quan hệ, những hoạt động, những mặt cụ thể hơn của xã hội đã, đang và sẽ nẩy sinh một cách khách quan cùng với các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, nó chứa đựng và phản ánh những vấn đề xã hội của con người. Chúng tôi xem xét vấn đề xã hội theo hướng này. Tuy nhiên, không thể tách biệt một cách rành rọt vấn đề xã hội với các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa… ví dụ vấn đề việc làm, nghèo đói, công bằng… nó đã bao hàm vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa… Những vấn đề đó luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đồng thời, nếu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề kinh tế, văn hóa… đều mang tính xã hội.
Từ khi loài người bắt đầu sinh sống trong cộng đồng, thì đồng thời nẩy sinh những quan hệ giữa người với người, giữa con người với cộng đồng và từ đó tất yếu nẩy sinh những vấn đề phải giải quyết trên các mặt: kinh tế, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị, xã hội, đạo đức… Các quan hệ đó trong không gian và thời gian bao giờ cũng nẩy sinh các “vấn đề xã hội” cần xử lý hoặc điều chỉnh để tạo ra cân bằng, ổn định và phát triển xã hội. Theo các nhà nghiên cứu phương Tây “vấn đề xã hội” lần đầu tiên được đặt ra vào những năm 30 của thế kỷ XIX, như là một khó khăn căn bản, nan giải của một xã hội, trong đó sự bền vững bị đe dọa và xã hội lâm vào nguy cơ tan rã do những điều kiện sinh sống của những tác nhân, đồng thời là những nạn nhân của cuộc cách mạng công nghiệp hóa dã man. Trong những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ăngghen đặc biệt quan tâm tới đời sống xã hội của quần chúng nhân dân lao động khi mà chính họ là lực lượng chủ yếu làm ra của cải cho xã hội nhưng lại phải sống trong môi trường “phi nhân tính”. Trong tác phẩm “Tình cảnh những người lao động ở Anh”, Ph.
Ăngghen đã tập trung nghiên cứu vấn đề xã hội nảy sinh trong xã hội TBCN dưới sự tác động mạnh mẽ của tích lũy tư bản và sự phát triển của đại công nghiệp.Ăngghen chủ yếu xem xét vấn đề xã hội gắn liền với sự bóc lột và thống trị của GCTS trong điều kiện của đại công nghiệp. Trong tác phẩm đó, Ăngghen khẳng định: đời sống của GCCN Anh (điều kiện lao động, thất nghiệp, điều kiện sinh hoạt…) đã bị rơi xuống đáy của xã hội, đe dọa chính chế độ bóc lột làm thuê của GCTS. Như vậy, khái niệm “vấn đề xã hội” được nghiên cứu theo nghĩa hẹp, tương đối độc lập với các vấn đề chính trị, kinh tế. Đối với các nhà nghiên cứu xã hội học: có vấn đề xã hội khi những thành viên của một cộng đồng (lớn hay nhỏ) nhận thấy những dấu hiệu hoặc những điều kiện có ảnh hưởng tác động hoặc đe dọa đến chất lượng cuộc sống của họ (chất lượng cuộc sống ở đây được hiểu theo nghĩa rộng) và đòi hỏi có những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết tình trạng đó theo hướng có lợi cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng (lớn hoặc nhỏ).
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ sự phân tích, chúng tôi đồng tình với quan điểm trên và xét trên bình diện chung nhất: Vấn đề xã hội là vấn đề luôn tồn tại một cách khách quan trong mối quan hệ giữa người với người. Nó phản ánh các mối quan hệ về lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế) và khuynh hướng cản trở sự phát triển của các cộng đồng người đó. Nó đặt ra yêu cầu cần phải ngăn chặn, giải quyết kịp thời sự nảy sinh, phát triển của các VĐXH để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển ổn định của các cộng đồng người trong xã hội đó. Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều phải giải quyết những VĐXH do các xã hội và thời đại trước để lại, đồng thời phải đối phó với những VĐXH mới nảy sinh trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Trong các VĐXH có vấn đề mang tính toàn cầu như: sự bùng nổ dân số, HIV, ô nhiễm môi trường, đói nghèo… Có loại vấn đề xã hội “gay cấn” hay những “điểm nóng”, về thực chất, những VĐXH “gay cấn” hay những “điểm nóng” thường là những vấn đề xã hội bức xúc, có quy mô hoặc có cường độ đạt tới hoặc vượt qua điểm “tới hạn” gây ra những phản ứng hoặc những hiệu ứng tiêu cực trong xã hội, mà nếu không được giải quyết kịp thời sẽ gây nguy hiểm hoặc nguy hại cho xã hội, gây mất an toàn và ổn định xã hội. Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyên nhân sâu xa và căn bản của những VĐXH là những hạn chế của phương thức sản xuất. Mỗi PTSX lại làm nảy sinh những VĐXH và phong trào xã hội tương ứng bởi vì những mâu thuẫn kinh tế tất yếu dẫn đến những mâu thuẫn xã hội. Trong chủ nghĩa tư bản, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của CNTB là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của GCTS.
Để đạt tới mục tiêu đã được xác định, CNTB đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các VĐXH, trong đó có những mặt tiến bộ như: coi trọng giảm nhẹ sự bất bình đẳng trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội. Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của CNTB là xã hội hoá của sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tồn tại và những giải pháp đó xét đến cùng vẫn là để thực hiện tốt hơn mục đích cuối cùng của CNTB. Trong CNXH, nhân dân lao động là người làm chủ, con người được coi là vốn quý nhất, mục tiêu phục vụ của CNXH là nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người. Do vậy, nhà nước XHCN luôn tạo ra những khả năng khách quan để thủ tiêu tình trạng người bóc lột người, cải thiện không ngừng các điều kiện sống, tạo ra các tiền đề cho sự phát triển của cá nhân, của người lao động để họ tự giác tham gia có hiệu quả các hoạt động sống, cũng như xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đồng thời, ở một nước trong một PTSX nhất định nhưng ở những giai đoạn phát triển khác nhau đều có những VĐXH cần thiết phải giải quyết khác nhau tùy theo những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa khác nhau. Ở nước ta khi bước vào giai đoạn đổi mới (từ 1986 đến nay), quá trình xây dựng CNXH, có hàng loạt các VĐXH đặt ra mà vấn đề nào cũng cấp bách. Đến đại hội VII của Đảng (năm 1991), chúng ta vẫn đứng trước nhiều VĐXH cần giải quyết. Đại hội đã vạch ra ba loại VĐXH ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH: “Trước hết đó là vấn đề do lịch sử và do hậu quả chiến tranh để lại như việc chăm sóc, đền ơn, trả nghĩa đối với những người có công với đất nước, với cách mạng, việc cứu trợ những nạn nhân chiến tranh, những trẻ mồ côi; những bệnh tật và những tệ nạn xã hội… Thứ hai, đó là vấn đề nảy sinh từ nền kinh tế xã hội lạc hậu, kém phát triển như thất nghiệp, mức sống thấp, tỷ lệ phát triển dân số cao, nạn mê tín dị đoan… Thứ ba, đó là loại vấn đề mới phát sinh như những VĐXH liên quan đến việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chuyển sang cơ chế thị trường, giải quyết vấn đề ruộng đất ở nông thôn, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, việc phân bố lại dân cư, xây dựng các vùng kinh tế mới, việc giảm biên chế các cơ quan và giảm quân số [10, tr.
Đại hội VIII của Đảng đã xác định, trong những năm trước mắt, phải giải quyết tốt một số VĐXH sau: tạo việc làm, thực hiện xóa 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động từ thiện, đẩy mạnh công tác kế hoạch hóa gia đình, đẩy lùi các TNXH. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu, những VĐXH nảy sinh trong thời kỳ quá độ lên CNXH là tổng hòa của những yêu cầu của giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động khác trên các lĩnh vực lao động, việc làm, nhà ở, đi lại, sức khỏe và môi trường sinh thái, cần phải giải quyết trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới (xã hội XHCN), nhằm nâng cao một cách cơ bản đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện thắng lợi mục tiêu giải phóng xã hội và bảo đảm cho con người phát triển ngày càng toàn diện.