Tổng quan nghiên cứu

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một trụ cột cốt lõi trong hệ thống chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam. Trên phạm vi toàn quốc, hơn 8 triệu người có công đã được hưởng các chế độ ưu đãi của Đảng và Nhà nước, trong đó có khoảng 1,5 triệu người nhận trợ cấp thường xuyên hàng tháng và trên 90% số hộ gia đình người có công đạt mức sống bằng hoặc cao hơn mức bình quân nơi cư trú. Tuy nhiên, tại các vùng nông thôn, nguồn lực ngân sách nhà nước vẫn chưa thể bao phủ trọn vẹn mọi nhu cầu đa dạng về thể chất, tâm lý và sinh hoạt hàng ngày của các đối tượng chính sách cao tuổi.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự thiếu đồng bộ giữa nhu cầu chăm sóc ngày càng tăng của người có công và khả năng kết nối, huy động các nguồn lực tại chỗ trong cộng đồng. Đề tài tập trung phân tích thực trạng đời sống của 165 đối tượng hưởng chính sách ưu đãi tại xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mục tiêu cụ thể là làm rõ tình trạng sức khỏe, việc làm, thu nhập và điều kiện sống; đánh giá năng lực của các tiểu hệ thống như gia đình, trạm y tế, trường học, doanh nghiệp và các đoàn thể; từ đó đề xuất giải pháp công tác xã hội nhằm kích hoạt nội lực địa phương.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại xã Quỳnh Văn trong mốc thời gian từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015, sử dụng hệ số liệu thống kê quản lý năm 2014. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi cung cấp mô hình can thiệp hỗ trợ cho 35 thương binh, 22 bệnh binh và 20 gia đình liệt sĩ tại địa phương. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả triển khai 5 chương trình đền ơn đáp nghĩa trọng điểm, đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện cho người có công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hệ thống của Ludwig von Bertalanffy và lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow làm nền tảng phân tích chủ đạo, kết hợp với cách tiếp cận dựa trên quyền con người và tiếp cận dựa vào cộng đồng. Dưới lăng kính lý thuyết hệ thống, xã Quỳnh Văn được xem xét như một đại hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống tương tác chặt chẽ: tiểu hệ thống 10.000 hộ gia đình, tiểu hệ thống chính quyền cùng các đoàn thể chính trị - xã hội, tiểu hệ thống 5 doanh nghiệp đóng trên địa bàn, tiểu hệ thống trạm y tế gồm 4 y bác sĩ, và tiểu hệ thống 6 trường học từ mầm non đến trung học phổ thông. Người có công đóng vai trò là hệ thống thân chủ trung tâm, chịu tác động trực tiếp từ sự vận hành của các tiểu hệ thống này.

Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow được áp dụng để lượng hóa 5 tầng nhu cầu của người có công, từ nhu cầu sinh lý cơ bản về dinh dưỡng, nhà ở, đến nhu cầu an toàn thân thể, nhu cầu giao lưu tình cảm làng xóm và nhu cầu được xã hội tôn vinh cống hiến. Bên cạnh đó, hệ thống khái niệm công cụ như nguồn lực cộng đồng, ưu đãi xã hội, người có công với cách mạng và chính sách xã hội được chuẩn hóa theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 và Thông tư liên tịch số 17/2006/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BYT, tạo nên khung tham chiếu khoa học vững chắc cho đề tài.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo thu thập dữ liệu khách quan và toàn diện. Cỡ mẫu khảo sát định lượng gồm 100 người có công với cách mạng đang sinh sống tại xã Quỳnh Văn. Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách quản lý 165 đối tượng của Ủy ban nhân dân xã. Phương pháp phân tích thống kê mô tả được lựa chọn nhằm đo lường chính xác các chỉ số về tỷ lệ mất sức lao động, phân bổ thu nhập, mức độ hài lòng về trợ cấp và tần suất tiếp cận dịch vụ y tế.

Về phương pháp định tính, tác giả tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, bao gồm 7 người có công đại diện cho các nhóm thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và 3 cán bộ phụ trách công tác lao động thương binh xã hội, y tế địa phương. Ngoài ra, nghiên cứu tổ chức 01 buổi thảo luận nhóm tập trung với 4 đại biểu đại diện cho Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Hội Cựu chiến binh và cán bộ chính sách xã. Việc kết hợp này giúp kiểm chứng chéo số liệu định lượng, đồng thời khám phá sâu sắc những rào cản tâm lý và cơ chế phối hợp nguồn lực tại cơ sở. Toàn bộ dữ liệu thứ cấp từ 25 chi bộ và các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2014-2015 được đối soát kỹ lưỡng trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu đối tượng và tình trạng suy giảm khả năng lao động, toàn xã Quỳnh Văn có 165 người có công hưởng chính sách ưu đãi, trong đó nhóm thương binh có 35 người và bệnh binh có 22 người. Tỷ lệ mất sức lao động của thương binh phân bổ như sau: mức 21% đến 40% có 22 người (chiếm khoảng 62,9%), mức 41% đến 60% có 8 người (chiếm khoảng 22,9%), và mức 61% đến 80% có 5 người (chiếm khoảng 14,2%). Đối với 22 bệnh binh, nhóm mất sức từ 61% đến 70% có 13 người (chiếm khoảng 59,1%), nhóm 71% đến 80% có 5 người (khoảng 22,7%), và nhóm nặng từ 81% đến 90% có 4 người (khoảng 18,2%), trong đó có 1 trường hợp mang vết thương đặc biệt nặng. Địa phương cũng ghi nhận 3 trường hợp bị nhiễm chất độc hóa học.

Thứ hai, về đời sống kinh tế và sinh kế gia đình, phần lớn các hộ gia đình người có công dựa vào trợ cấp ưu đãi hàng tháng làm nguồn thu nhập chính. Khoảng 85% người có công cao tuổi không còn khả năng tham gia lao động sản xuất tạo thêm thu nhập do di chứng thương tật và bệnh tật tuổi già. Trong 20 gia đình liệt sĩ, có 18 hộ có 1 con là liệt sĩ và 2 hộ có 2 con là liệt sĩ; 9 thân nhân đang nhận tiền tuất ưu đãi, trong đó 3 thân nhân già yếu hưởng định suất tuất nuôi dưỡng đặc biệt.

Thứ ba, về chăm sóc sức khỏe và điều dưỡng, chế độ điều dưỡng tập trung thời gian 10 ngày với mức chi 1.000.000 đồng/người/lần và điều dưỡng tại gia đình mức 800.000 đồng/người/lần đã phát huy hiệu quả hỗ trợ thể chất. Dù vậy, trạm y tế xã chỉ có 1 bác sĩ chuyên khoa và 3 y tá, phải chăm sóc cho hơn 10.000 dân cư nên công tác thăm khám, tập vật lý trị liệu định kỳ tại nhà cho các thương bệnh binh nặng vẫn còn hạn chế.

Thứ tư, về huy động nguồn lực cộng đồng, 5 doanh nghiệp trên địa bàn cùng 6 trường học đã tích cực tham gia phong trào tặng sổ tiết kiệm, phụng dưỡng thân nhân và chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ. Tuy nhiên, các hoạt động này chủ yếu diễn ra cao điểm vào dịp kỷ niệm ngày 27 tháng 7, chưa tạo thành mạng lưới hỗ trợ thường xuyên và liên tục quanh năm.

Thảo luận kết quả

Sự phân tán trong việc trợ giúp người có công tại xã Quỳnh Văn xuất phát từ việc thiếu một cơ chế điều phối chuyên nghiệp theo phương pháp công tác xã hội. So sánh với các nghiên cứu tại thị xã Cửa Lò hay huyện Nghi Xuân, các hoạt động chăm sóc tại khu vực thuần nông Quỳnh Lưu vẫn mang nặng tính trợ cấp thụ động, chưa khơi dậy được tiềm năng tự lực của thân chủ và sự tương tác đồng bộ giữa các tiểu hệ thống.

Dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng 5 doanh nghiệp và lực lượng thanh thiếu niên tại 6 trường học là nguồn lực tiềm năng nhưng chưa được kết nối theo chuỗi hỗ trợ liên tục. Để quản lý hiệu quả, hệ thống dữ liệu này có thể được trình bày trực quan thông qua bảng thống kê tương quan giữa mức độ mất sức lao động với mức thu nhập, kết hợp biểu đồ cột mô tả tỷ lệ hài lòng về các dịch vụ y tế. Cách tiếp cận này giúp các cấp chính quyền nhanh chóng nhận diện nhóm 9 thân nhân liệt sĩ và 4 bệnh binh nặng để ưu tiên phân bổ nguồn lực can thiệp khẩn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập mạng lưới điều phối công tác xã hội liên ngành cấp xã. Ủy ban nhân dân xã Quỳnh Văn chủ trì phối hợp với Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên xây dựng hồ sơ quản lý trường hợp cho 100% người có công trước quý IV năm 2016. Chính quyền địa phương tiến hành vận động 5 doanh nghiệp đóng trên địa bàn nhận hỗ trợ tài chính thường xuyên cho tối thiểu 10 hộ gia đình chính sách già yếu, khó khăn.

Thứ hai, nâng cao năng lực y tế cơ sở và dịch vụ phục hồi chức năng tại nhà. Trạm Y tế xã phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tổ chức định kỳ 02 đợt khám bệnh, cấp thuốc miễn phí mỗi năm cho toàn bộ 35 thương binh, 22 bệnh binh và thân nhân liệt sĩ. Đặt mục tiêu trong giai đoạn 2016-2020, 100% thương bệnh binh nặng mất sức lao động trên 81% được nhân viên y tế thăm khám, tư vấn sức khỏe tại gia đình tối thiểu 1 lần mỗi quý.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa quỹ đền ơn đáp nghĩa gắn với phát triển sinh kế. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã phối hợp Hội Nông dân đặt chỉ tiêu vận động tăng trưởng nguồn quỹ từ 15% đến 20% mỗi năm. Nguồn quỹ này kết hợp với vốn vay ưu đãi ngân sách chính sách sẽ giải ngân hỗ trợ cho ít nhất 15 hộ gia đình người có công còn sức lao động xây dựng mô hình kinh tế vườn ao chuồng trong giai đoạn 2016-2018.

Thứ tư, triển khai phong trào tình nguyện liên thế hệ trong hệ thống giáo dục. Ban giám hiệu 6 trường học trên địa bàn phối hợp Đoàn Thanh niên đưa hoạt động chăm sóc người có công vào chương trình giáo dục truyền thống. Mỗi trường học nhận giúp đỡ sinh hoạt thường nhật cho ít nhất 3 gia đình liệt sĩ neo đơn và đảm nhận vệ sinh nghĩa trang, duy trì tối thiểu 20 buổi tình nguyện mỗi năm học từ năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách an sinh xã hội. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn về cơ chế phân bổ nguồn lực cấp xã, giúp cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách ưu đãi cho hơn 160 đối tượng người có công tại địa bàn nông thôn.

Thứ hai, nhân viên công tác xã hội và cán bộ đoàn thể cơ sở. Đề tài là tài liệu hướng dẫn quy trình đánh giá nhu cầu thân chủ, cách thức kết nối các tiểu hệ thống giữa trạm y tế, trường học, doanh nghiệp và 10.000 hộ dân để vận hành mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu Maslow vào đề tài nghiên cứu kết hợp khảo sát 100 mẫu định lượng và phỏng vấn sâu chất lượng cao.

Thứ tư, lãnh đạo doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ. Luận văn gợi mở cách thức triển khai các chương trình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trúng mục tiêu, tài trợ hiệu quả cho các hoạt động xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm và cải thiện môi trường sống cho cựu chiến binh.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của việc đánh giá nguồn lực cộng đồng trong chăm sóc người có công là gì? Mục tiêu là nhận diện và kết nối toàn diện các nguồn lực vật chất, tài chính và con người tại địa phương. Qua khảo sát 165 đối tượng tại xã Quỳnh Văn, nghiên cứu giúp tối ưu hóa sự hỗ trợ của gia đình, trạm y tế, trường học và 5 doanh nghiệp, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.

Lý thuyết hệ thống đóng vai trò như thế nào trong đề tài nghiên cứu này? Lý thuyết hệ thống định vị người có công là hệ thống thân chủ trung tâm, tương tác mật thiết với 5 tiểu hệ thống tại cơ sở. Khi các tiểu hệ thống này phối hợp đồng bộ, chất lượng trợ giúp cho 35 thương binh và 22 bệnh binh sẽ đạt hiệu quả bền vững thay vì hỗ trợ rời rạc.

Cỡ mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu của luận văn có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Nghiên cứu khảo sát 100 người có công theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách 165 đối tượng tại xã Quỳnh Văn. Kết hợp với 10 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm 4 chuyên gia, dữ liệu thu được đảm bảo độ chuẩn xác cao và phản ánh trung thực thực tế.

Những khó khăn lớn nhất của các gia đình chính sách tại xã Quỳnh Văn hiện nay là gì? Khó khăn lớn nhất là sức khỏe suy giảm nghiêm trọng với 22 thương binh mất sức từ 21% đến 40% và 13 bệnh binh mất sức từ 61% đến 70%. Thu nhập ngoài trợ cấp rất thấp, trong khi trạm y tế chỉ có 4 nhân viên, chưa thể đáp ứng hết nhu cầu trị liệu tại nhà.

Giải pháp nào giúp doanh nghiệp địa phương tham gia bền vững vào công tác chăm sóc người có công? Cần xây dựng thỏa thuận hợp tác minh bạch giữa chính quyền xã và 5 doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể tài trợ trực tiếp vào quỹ đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ vốn cho các mô hình kinh tế gia đình hoặc nhận phụng dưỡng định kỳ cho 20 gia đình liệt sĩ và thân nhân khó khăn.

Kết luận

  • Luận văn phản ánh trung thực bức tranh toàn diện về đời sống, sức khỏe và nhu cầu của 165 đối tượng người có công với cách mạng tại xã Quỳnh Văn.
  • Đề tài vận dụng sáng tạo lý thuyết hệ thống và thang bậc nhu cầu Maslow, khẳng định vai trò cầu nối của công tác xã hội trong huy động nội lực cộng đồng.
  • Công trình đánh giá chi tiết tiềm năng của các tiểu hệ thống gồm 5 doanh nghiệp, 6 trường học, 1 trạm y tế và mạng lưới 10.000 hộ gia đình trên địa bàn.
  • Hệ thống khuyến nghị đưa ra lộ trình thực thi rõ ràng giai đoạn 2016-2020, hướng tới mục tiêu 100% đối tượng chính sách được chăm sóc toàn diện về vật chất lẫn tinh thần.
  • Nghiên cứu đặt nền móng cho việc chuẩn hóa mô hình nhân viên công tác xã hội chuyên trách tại cấp xã trong quản trị an sinh xã hội nông thôn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, chính quyền địa phương cần nhanh chóng thành lập Ban điều phối an sinh xã hội xã Quỳnh Văn và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng tổ chức đoàn thể ngay từ quý đầu năm 2016. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để nắm bắt đầy đủ phương pháp luận và nhân rộng mô hình chăm sóc cộng đồng đầy ý nghĩa nhân văn này.