Chương 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1. Các yếu tố tác động, quyết định đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên trong việc phát huy vai trò của phụ nữ 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Điều kiện tự nhiên Hưng Yên là vùng đất hình thành sớm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, có ranh giới tiếp giáp với 6 tỉnh và thành phố. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, địa phận huyện Thuận Thành, địa giới dài 16km.
Phía Đông giáp Hải Dương, chiều dài 93km. Phía Đông Nam giáp tỉnh Thái Bình, chiều dài 26km, có sông Luộc làm ranh giới. Phía Tây Bắc và Tây Nam giáp Hà Nội, Hà Nam với chiều dài 67km, có sông Hồng làm giới hạn. Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 923.093 km2 trong đó có huyện Khoái Châu có diện tích lớn nhất: 130.861km, thành phố Hưng Yên có diện tích nhỏ nhất: 20.
Địa hình nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, địa hình tỉnh tương đối bằng phẳng, không có biển và đồi núi. Đất đai trong tỉnh được hình thành từ sớm do phù sa sông Hồng bồi đắp. Khí hậu tỉnh Hưng Yên cũng giống các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng đó là nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu của địa phương chia làm hai mùa nóng lạnh rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 độ C, lượng mưa trung bình dao động từ 1800 đến 2200mm/năm, tập trung chủ yếu tới 70% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8.
Thời kì khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Độ ẩm bình quân các tháng trong năm là 85,5% [9, tr. Tỉnh Hưng Yên có nhiều sông ngòi, ở phía Tây có sông Hồng chảy qua tỉnh dài xấp xỉ 60km, phía Nam có sông Luộc. Sông Tử Dương còn gọi là 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sông Nghĩa Trụ, chảy đến giữa tỉnh thì chia làm hai lưu Loan Ái và Thổ Hoàng rồi đổ vào sông Trương thuộc huyện Thanh Miện của tỉnh Hải Dương.
Phía Đông là sông Cửu An - dòng sông cũ đã bị bồi lấp, dòng sông mới từ phía Đông huyện Phù Cừ đến phía Đông huyện Ân Thi, qua cầu Sặt sang tỉnh Hải Dương. Khí hậu và đất đai cùng hệ thống sông trong tỉnh phong phú rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, thích hợp để bố trí một cơ cấu cây trồng và vật nuôi đa dạng có nguồn gốc nhiệt đới và một số cây trồng có nguồn gốc ôn đới như cây lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiêp… Tuy nhiên khí hậu như vậy cũng có một số hạn chế như mùa mưa thường tập trung vào một thời gian ngắn nên dễ gây ngập úng và thường kèm theo bão, mùa lạnh cũng thường xuất hiện những đợt rét đậm, rét hại ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh. Hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị là : Thị xã Hưng Yên (nay là Thành phố Hưng Yên, các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, với 161 xã, phường và thị trấn). Điều kiện kinh tế - xã hội Hưng Yên cũng giống như các vùng khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, là tỉnh đất chật người đông.
Nhờ chính sách trọng nông của nhà nước phong kiến, vùng đất Hưng Yên được khai thác từ rất sớm. Nhà Trần đã cho phép các vương hầu được chiêu mộ dân phiêu tán đến khai hoang, lập ấp, dựng điền trang dọc theo sông Hồng. Hệ thống đê quai vạc dọc sông Hồng được xây đắp cùng với việc đào nắn nhiều mương ngòi dẫn nước để tiêu úng chống hạn. Thời Lê, đội ngũ hà đê chánh, phó sứ giúp nhiều cho công việc đê điều, thủy lợi.
Tuy nhiên, việc độc canh cây lúa và việc phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên khắc nghiệt không đủ đảm bảo cho cuộc sống thường nhật của người dân, do đó nhiều nghề phụ đã ra đời tạo ra các làng nghề thủ công, phường thủ công nổi tiếng ra đời. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động thương mại, buôn bán của Hưng Yên phát triển từ khá sớm, và khá mạnh. Ngoài truyền thuyết về Chử Đồng Tử - Tiên Dung được coi như tổ sư nghề buôn, ta còn thấy xuất hiện nhiều làng chuyên buôn bán, bến chợ bên bờ sông Hồng từ Mễ Sở xuống tận thị xã Hưng Yên. Làng Huê Cầu (Nghĩa Trụ - Văn Giang) có người buôn bán khắp các tỉnh, thành như: Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hải Dương.
Làng Đa ngưu (Văn Giang) có tới hơn 70% số hộ buôn bán thuốc bắc, cung cấp 9/10 thuốc bắc cho các hiệu thuốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh bắc Trung Bộ. Làng Đồng Tỉnh ở Nghĩa Trụ Văn giang, cả làng đi buôn thuốc lào và cau, có nhiều cơ sở ở Nghệ An, Hà Đông, Thái Nguyên. Đặc biệt, với Phố Hiến – tiền cảng, cảng sông, cảng chợ của Thăng Long vô cùng sầm uất đã biến vùng đất này thành trung tâm buôn bán và đô hộ từ rất sớm. Nếu hồi đầu thế kỉ XIII, nơi đây mới xuất hiện làng Hoa Dương của quan quân nhà Tống lánh nạn Nguyên – Mông thì đến thế kỉ XVII, dưới thời Lê - Trịnh, nó đã trở thành Phố Hiến với cảng sông Vạn Lai Triều, tấp nập tàu thuyền của ngoại quốc vào ra buôn bán.
Các nước Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp đã dựng nhiều thương điếm làm cho phố xá càng tấp nập đông vui. Dân số Hưng Yên, theo điều tra dân số năm 2011, toàn Tỉnh có 1. Mật độ dân số là 1.145 người/km [9, tr. Đặc điểm tự nhiên và các hoạt động kinh tế, xã hội cơ bản là thuận lợi đã tạo điều kiện cho Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có những chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp phù hợp với từng vùng trong tỉnh và khai thác được tối đa hiệu suất mà điều kiện tự nhiên mang lại đồng thời tận dụng được tối đa nguồn nhân lực nông nhàn đặc biệt là phụ nữ nhằm khai thác và phát huy được vai trò của phụ nữ ở từng vùng nông thôn.
Với những vùng đất có sông Hồng bồi đắp phù sa, như Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, thì thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyên canh cây ăn quả lâu năm hay phù hợp với trồng cây hoa màu, rất phù hợp với bàn tay khéo léo tỉ mỉ của phụ nữ. Những Huyện như Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ là những vùng đất có tuyến giao thông thuận lợi nên rất thu hút được các nhà máy, xí nghiệp có vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư phát triển, nhờ vậy mà Đảng bộ tỉnh Hưng Yên cũng rất chú trọng thu hút vốn đầu tư phát triển các nhà máy xí nghiệp nhằm tạo công ăn việc làm cho nguồn nhân lực đang có trên địa bàn tỉnh. Vì vậy mà trong các giai đoạn phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Hưng Yên. Đảng bộ tỉnh cũng đã chú trọng tới những điều kiện tự nhiên cụ thể để có những bước đi phù hợp với từng vùng trong tỉnh, phát huy được vai trò của từng vùng cũng như từng bộ phận nguồn nhân lực cụ thể trong đó có phụ nữ.
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy vai trò của phụ nữ Ngay từ đầu khi Đảng mới thành lập. Những nhận thức mới về phụ nữ đã tạo điều kiện cho họ phát huy hết tài năng và đức hạnh của mình góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930, với Chính cương văn tắt khẳng định “nam nữ bình quyền” [40, tr. Trong Án nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 nêu rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu.
Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được. Bởi vậy nên công tác trong quần chúng phụ nữ không phải là một cái nhiệm vụ phụ thuộc của Đảng; công tác ấy chánh là một cái nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu” [40, tr. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ VI (15/12/1986) khẳng định: Phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng, có những đặc điểm cần chú ý. Để phát huy vai trò to 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hóa thành chính sách, luật pháp.
Các cơ quan nhà nước, với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có những biện pháp thiết thực tạo thêm nhiều việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình. Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc [41, tr. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 11 NQ/TW về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ, để phụ nữ tham gia đóng góp ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn cho sự phát triển của đất nước, gia đình và xã hội. Nghị quyết khẳng định, trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Ðảng. Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình.