Tổng quan nghiên cứu

Năm 1986, giai cấp công nhân Việt Nam có khoảng 3,38 triệu người, chiếm 16% lực lượng lao động xã hội. Đến năm 2009, quy mô lực lượng này đã tăng trưởng vượt bậc lên hơn 8,9 triệu người, chiếm gần 21% tổng lực lượng lao động cả nước. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã làm nảy sinh những biến đổi phức tạp trong cấu trúc nội bộ của giai cấp công nhân. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự phân hóa về trình độ, việc làm, thu nhập và sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các thành phần kinh tế, tạo ra những thách thức lớn đối với tính thống nhất và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cơ cấu giai cấp công nhân trong thời kỳ mới; đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu giai cấp công nhân qua 4 tiêu chí cốt lõi gồm thành phần kinh tế, ngành nghề kinh tế, trình độ văn hóa - tay nghề và quan hệ lao động; từ đó đề xuất hệ sinh thái giải pháp đồng bộ nhằm xây dựng cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam phát triển hài hòa, hợp lý.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trên quy mô toàn quốc, tập trung khảo sát tiến trình biến đổi từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa năm 1996 đến năm 2011. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy, đóng góp vào việc cụ thể hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, đồng thời thúc đẩy cơ cấu lao động dịch chuyển tích cực theo mục tiêu nâng tỷ trọng lao động công nghiệp và xây dựng từ mức 11,24% năm 1990 lên hơn 22,4% năm 2010 và lao động dịch vụ đạt 29,4%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân và cơ cấu xã hội - giai cấp. Theo học thuyết Mác - Lênin, giai cấp công nhân được xác định qua hai tiêu chí căn bản: phương thức lao động vận hành công cụ sản xuất hiện đại mang tính xã hội hóa cao và vị trí trực tiếp trong quan hệ sản xuất. Lý thuyết cơ cấu xã hội - giai cấp chỉ rõ cơ cấu kinh tế giữ vai trò quy định cơ cấu xã hội, trong đó cơ cấu xã hội - giai cấp là bộ phận trung tâm, quyết định bản chất của các loại hình cơ cấu xã hội khác.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết về kinh tế tri thức theo chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động từ công nhân lao động chân tay sang đội ngũ lao động trí tuệ với các nhóm khái niệm chuyên ngành như công nhân áo xanh, công nhân áo trắng và công nhân áo vàng. Ba khái niệm then chốt xuyên suốt công trình gồm: Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, Cơ cấu giai cấp công nhân và Toàn cầu hóa kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ hệ thống thống kê chính thống của Tổng cục Thống kê, Viện Công nhân và Công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc từ Đại hội VI đến Đại hội XI, cùng các báo cáo chuyên đề giai đoạn 1986 - 2010.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu vĩ mô của toàn bộ 248.842 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước tính đến năm 2009, phân chia chi tiết theo 3 loại hình sở hữu: 3.364 doanh nghiệp nhà nước, 238.932 doanh nghiệp ngoài nhà nước và 6.546 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Phương pháp chọn mẫu thứ cấp mang tính phân tầng toàn diện theo thành phần kinh tế và ngành nghề kinh tế quốc dân nhằm bảo đảm độ bao phủ tuyệt đối và tính đại diện khoa học cho bức tranh lao động toàn quốc.

Luận văn kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê so sánh, logic - lịch sử và dự báo xu hướng. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bóc tách quy luật vận động khách quan của cấu trúc xã hội, đo lường chính xác các biến động về tỷ trọng phần trăm qua từng mốc thời gian, bảo đảm đánh giá thực trạng một cách khách quan và đề xuất giải pháp có tính khả thi cao. Timeline nghiên cứu tập trung xử lý chuỗi số liệu từ năm 1996 đến năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu giai cấp công nhân theo thành phần kinh tế có sự đảo chiều sâu sắc. Năm 1986, công nhân trong khu vực kinh tế nhà nước chiếm trên 97% với hơn 3,3 triệu người, nhưng đến năm 2009 tỷ lệ này giảm xuống còn 19,5% với khoảng 1,74 triệu người (giảm 47,6% về số lượng tuyệt đối). Ngược lại, khu vực ngoài nhà nước tăng trưởng vượt bậc từ 105.167 doanh nghiệp với 2,98 triệu công nhân năm 2005 lên 238.932 doanh nghiệp với gần 5,3 triệu công nhân năm 2009 (tăng 1,78 lần, chiếm 59,5% tổng số công nhân cả nước). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng 58,3% về số lượng công nhân giai đoạn 2005 - 2009, đạt trên 1,9 triệu người, chiếm 19% tổng lực lượng công nhân.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề kinh tế ghi nhận sự phân bổ chênh lệch lớn. Tính đến năm 2009, công nhân tập trung chủ yếu trong ngành công nghiệp với 48,5% và ngành xây dựng với 15,4%. Khối ngành thương mại, dịch vụ chiếm 24,5%, ngành vận tải chiếm 4,9%, trong khi công nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 4,2%.

Thứ ba, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Giai đoạn 1990 - 2010, tỷ trọng nông - lâm - thủy sản trong GDP giảm từ 38,1% xuống 20,6%, nhưng tỷ trọng lao động nông nghiệp năm 2010 vẫn chiếm tới 48,2% tổng lao động xã hội. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng từ 22,7% lên 41,1%, song chỉ thu hút 22,4% lực lượng lao động.

+-------------------------------------------------------------------------+
|      CƠ CẤU CÔNG NHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM (NĂM 2009)   |
+-------------------------------------------------------------------------+
|  [████████████████████████████████████████████████████████]  59.5%      |
|  Khu vực Ngoài nhà nước (gần 5.3 triệu công nhân)                       |
|                                                                         |
|  [███████████████████]  19.5%                                           |
|  Khu vực Nhà nước (khoảng 1.74 triệu công nhân)                         |
|                                                                         |
|  [██████████████████]  19.0%                                            |
|  Khu vực FDI (trên 1.9 triệu công nhân)                                 |
|                                                                         |
|  [██]  2.0%                                                             |
|  Các loại hình khác                                                     |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự suy giảm tỷ trọng công nhân nhà nước bắt nguồn từ chủ trương sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm khoảng 72% từ năm 1986 đến năm 2009). Cùng với đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 đã mở đường cho làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ khối tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu sở hữu lao động (khu vực ngoài nhà nước chiếm lĩnh 59,5%, khối nhà nước 19,5% và khối FDI 19%) và bảng so sánh đa trục thể hiện độ trễ giữa tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp với tốc độ chuyển dịch lao động nông thôn sang công nghiệp.

So với các quốc gia phát triển nơi tỷ trọng lao động dịch vụ chiếm từ 50% đến 70%, tỷ lệ 24,5% công nhân dịch vụ tại Việt Nam cho thấy nền kinh tế vẫn đang ở giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa. Sự gia nhập ồ ạt của lao động nông thôn chưa qua đào tạo bài bản tạo ra một tầng lớp công nhân yếu thế, làm gia tăng khoảng cách thu nhập (chênh lệch thu nhập nội bộ có thời điểm lên đến hàng chục lần giữa các khu vực), đặt ra thách thức lớn đối với việc giữ vững vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và đẩy mạnh chiến lược trí thức hóa giai cấp công nhân. Nâng tỷ lệ công nhân kỹ thuật qua đào tạo bài bản lên trên 50% vào năm 2015 và đạt 70% vào năm 2020. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo quy hoạch lại mạng lưới trường nghề, gắn chương trình đào tạo với các khu công nghiệp trọng điểm như Chu Lai, Sóng Thần, Nomura.

Thứ hai, tái cơ cấu và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế nhà nước nhằm giữ vững vai trò chủ đạo. Duy trì tỷ lệ công nhân nòng cốt, tay nghề cao trong các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ở mức ổn định từ 20% đến 25% tổng lực lượng công nhân toàn quốc giai đoạn 2011 - 2020. Chính phủ cùng Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương chịu trách nhiệm ban hành cơ chế tiền lương đặc thù để thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba, tăng cường thiết lập tổ chức công đoàn và giám sát thực thi pháp luật lao động tại khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI. Phấn đấu 100% doanh nghiệp có từ 25 lao động trở lên thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, kéo giảm trên 50% các cuộc đình công tự phát trước năm 2015. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp chặt chẽ với cơ quan thanh tra lao động các địa phương thực hiện thanh tra định kỳ việc ký kết hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội.

Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hướng tới phát triển bền vững và công nghiệp hóa nông nghiệp. Đẩy nhanh việc chuyển dịch công nhân sang các ngành dịch vụ công nghệ cao đạt mức 35% và nâng tỷ trọng công nhân nông nghiệp kỹ thuật cao từ mức 4,2% hiện nay lên 8% - 10% trong giai đoạn 2012 - 2020. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quy hoạch vùng kinh tế nông nghiệp công nghệ cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách thuộc cơ quan quản lý nhà nước về lao động, việc làm và an sinh xã hội. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu vĩ mô giai đoạn 1986 - 2010 làm căn cứ thực tiễn để sửa đổi Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và xây dựng chính sách tiền lương tối thiểu vùng.

Nhóm thứ hai là cán bộ hệ thống Công đoàn các cấp từ trung ương đến cơ sở. Tài liệu hỗ trợ phương pháp luận và cơ sở dữ liệu thực chứng để đổi mới mô hình tổ chức, phương thức tiếp cận và bảo vệ quyền lợi cho hơn 78,5% công nhân đang làm việc tại khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng, Triết học và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Nhóm thứ tư là các nhà quản trị doanh nghiệp và giám đốc nhân sự tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nghiên cứu giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt đặc điểm tâm lý, nguồn gốc xuất thân nông dân của người lao động để thiết kế chương trình đào tạo nội bộ, xây dựng tác phong công nghiệp và giảm thiểu tỷ lệ biến động nhân sự.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu thành phần kinh tế của giai cấp công nhân Việt Nam biến đổi như thế nào sau đổi mới? Cơ cấu công nhân chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình thuần nhất do kinh tế nhà nước chiếm hơn 97% năm 1986 sang mô hình đa thành phần. Đến năm 2009, khu vực ngoài nhà nước chiếm vị trí chủ đạo với 59,5%, khu vực FDI chiếm 19%, trong khi khu vực nhà nước giảm xuống còn 19,5%.

Vì sao số lượng công nhân trong doanh nghiệp nhà nước lại sụt giảm mạnh? Nguyên nhân chủ yếu do tiến trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm khoảng 72% từ năm 1986 đến năm 2009, dẫn đến việc giảm 47,6% quy mô lao động trong khu vực này.

Những rủi ro xã hội lớn nhất đối với công nhân xuất thân từ nông thôn là gì? Tầng lớp công nhân xuất thân từ nông dân thường làm các công việc giản đơn, thiếu tay nghề chuyên môn và tác phong công nghiệp. Họ là nhóm yếu thế dễ bị tổn thương nhất khi doanh nghiệp cắt giảm nhân sự, đồng thời chịu thiệt thòi về mức lương, bảo hiểm và điều kiện sinh hoạt.

Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2008 định hướng mục tiêu phát triển giai cấp công nhân ra sao? Nghị quyết xác định mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý, đẩy mạnh trí thức hóa, nâng cao bản lĩnh chính trị, tác phong công nghiệp và làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức.

Tại sao cần gia tăng tỷ trọng công nhân ngành dịch vụ và công nghệ cao? Ở các nước công nghiệp phát triển, lao động dịch vụ chiếm từ 50% đến 70%. Việc nâng tỷ trọng công nhân dịch vụ tại Việt Nam từ mức 24,5% năm 2009 lên cao hơn là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy kinh tế tri thức, nâng cao giá trị thặng dư và hiện đại hóa cấu trúc nền kinh tế.

Kết luận

  • Đội ngũ công nhân phát triển nhanh về quy mô, từ 3,38 triệu người năm 1986 lên hơn 8,9 triệu người năm 2009, khẳng định vai trò lực lượng đi đầu sự nghiệp công nghiệp hóa.
  • Khu vực ngoài nhà nước trở thành nơi thu hút đông đảo công nhân nhất với 59,5%, trong khi khu vực FDI chiếm 19% và khu vực nhà nước chiếm 19,5%.
  • Tỷ trọng công nhân phân bổ chưa đồng đều giữa các ngành kinh tế, tập trung cao ở ngành công nghiệp (48,5%) nhưng còn rất thấp ở mảng dịch vụ (24,5%) và nông nghiệp (4,2%).
  • Sự phân tầng xã hội, khoảng cách thu nhập và trình độ giác ngộ giai cấp không đồng đều giữa các nhóm công nhân đòi hỏi những chính sách can thiệp kịp thời.
  • Hệ thống giải pháp cần tập trung vào việc trí thức hóa người lao động, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả của tổ chức công đoàn và đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là đã hệ thống hóa toàn diện bức tranh chuyển dịch cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong 15 năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, cung cấp hệ thống số liệu xác thực làm cơ sở hoạch định chiến lược giai đoạn 2011 - 2020. Quý độc giả và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để ứng dụng các mô hình phân tích và giải pháp vào thực tiễn quản lý lao động.