Tổng quan nghiên cứu

Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang được thành lập từ năm 1976 với khuôn viên rộng 43.000 m2, là cái nôi đào tạo hơn 5.689 giáo viên trung học cơ sở và tiểu học cho tỉnh Khánh Hòa cùng các tỉnh lân cận tính đến năm học 2000 - 2001. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực sư phạm chất lượng cao trở thành nhiệm vụ mang tính chiến lược hàng đầu. Tuy nhiên, trước những tác động đa chiều từ cơ chế thị trường, công tác giáo dục tại trường đang đối diện với nhiều thách thức nghiêm trọng khi một bộ phận sinh viên xuất hiện biểu hiện lệch lạc về nhân cách, phai nhạt lý tưởng chính trị và suy giảm động lực học tập.

Nghiên cứu được triển khai nhằm làm sáng tỏ bản chất nhân cách sinh viên sư phạm dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích thực trạng rèn luyện của sinh viên giai đoạn 1996 - 2004, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hơn 1.200 sinh viên chính quy đang học tập tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp khả thi nhằm nâng cao tỷ lệ sinh viên xếp loại rèn luyện khá giỏi, kéo giảm tỷ lệ vi phạm quy chế thi cử từ 38% xuống mức tối thiểu, hướng tới đào tạo đội ngũ nhà giáo chuẩn mực toàn diện cả về đức và tài cho sự nghiệp giáo dục địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là luận điểm kinh điển của C. Mác: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội". Con người được nhìn nhận là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, trong đó yếu tố xã hội giữ vai trò quyết định. Quá trình hình thành nhân cách là sự tương tác biện chứng giữa xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội thông qua các hoạt động thực tiễn và giao tiếp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người với phương châm cốt lõi: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Tư tưởng này khẳng định mối liên hệ hữu cơ, không thể tách rời giữa hai phẩm chất cơ bản là Đức và Tài. Đồng thời, đề tài tiếp thu luận điểm sư phạm của K. Ushinsky: "Trong việc giáo dục, tất cả phải dựa vào nhân cách của người giáo dục", kết hợp cùng lý thuyết tâm lý học nhân cách của A.N. Leontiev. Ba khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa gồm: nhân cách, nhân cách sinh viên sư phạm và cấu trúc nhân cách toàn diện bao gồm phẩm chất chính trị - đạo đức và năng lực nghiệp vụ sư phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định tính và nghiên cứu định lượng. Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra xã hội học trên cỡ mẫu 356 sinh viên thuộc 4 khoa chuyên môn: 108 sinh viên khoa Tự nhiên, 115 sinh viên khoa Xã hội, 85 sinh viên khoa Ngoại ngữ và 48 sinh viên khoa Tiểu học. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khoa và khóa học được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ tính đại diện cho toàn bộ quy mô hơn 1.200 sinh viên của nhà trường.

Về dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu thu thập số liệu tuyển sinh, kết quả học tập và rèn luyện từ Phòng Đào tạo trong giai đoạn 8 năm (1996 - 2004). Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả đối sánh kết hợp với tiếp cận hệ thống - cấu trúc và tiếp cận giá trị - nhân cách giúp giải thích sâu sắc các biến đổi tâm lý, hành vi của sinh viên trong tiến trình đào tạo. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý thông tin được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng đã làm rõ bức tranh nhân cách sinh viên qua hai trụ cột: học tập và hoạt động chính trị - xã hội. Thứ nhất, về động cơ chọn ngành và ý thức học tập, 84,3% sinh viên chọn ngành sư phạm xuất phát từ tình yêu nghề, 32,7% chọn vì kỳ vọng thu nhập ổn định và 15,1% chọn theo định hướng gia đình. Mặc dù động cơ ban đầu rất tích cực, song chỉ có 19% sinh viên duy trì ý thức học tập tích cực, 61% ở mức độ bình thường và 20% bị đánh giá có ý thức học tập kém.

Thứ hai, thời gian tự học và tính tự giác có sự phân hóa mạnh mẽ: 45% sinh viên dành 2 - 4 tiếng mỗi ngày cho việc tự học, 26% dành từ 5 tiếng trở lên, trong khi vẫn còn 7% sinh viên hầu như không tham gia tự học. Tình trạng vi phạm giờ giấc lên lớp diễn ra đáng lo ngại khi 35% sinh viên nhận định việc đi học muộn là phổ biến và 9% khẳng định đây là hiện tượng thường xuyên.

Thứ ba, sự thiếu trung thực trong kiểm tra, đánh giá học tập bộc lộ rõ rệt: 38% sinh viên thừa nhận có hiện tượng mang tài liệu trái phép vào phòng thi, 30% trao đổi bài trong giờ làm bài, 22% trực tiếp sử dụng tài liệu và chỉ 17% sinh viên xác nhận môi trường thi cử hoàn toàn nghiêm túc.

Thứ tư, đối với hoạt động chính trị - xã hội, sinh viên đặc biệt hào hứng với các hình thức sinh hoạt ngoại khóa mang tính giải trí như câu lạc bộ (80% ưa thích), nói chuyện văn hóa nghệ thuật (78%) và dạ hội (70%). Ngược lại, các hoạt động sinh hoạt chính trị, thời sự chỉ nhận được 24% mức độ yêu thích, 50% đánh giá ở mức bình thường và 26% thể hiện sự không hứng thú.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên bắt nguồn từ tác động mặt trái của cơ chế thị trường, hình thành tâm lý thực dụng, chạy theo điểm số và bằng cấp thuần túy. Nhiều sinh viên còn mang nặng thói quen sản xuất nhỏ, thiếu tác phong công nghiệp và phương pháp tự học khoa học ở bậc cao đẳng. Về phía nhà trường, nội dung sinh hoạt Đoàn - Hội còn nặng về hình thức bề nổi, thiếu tính chiều sâu và chưa thực sự hấp dẫn giới trẻ.

Toàn bộ hệ thống dữ liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết qua 5 bảng số liệu trong luận văn, minh chứng rõ nét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa điểm chuẩn đầu vào và kết quả rèn luyện qua từng học kỳ. Qua các bảng đối chiếu từ năm học 1996 - 1997 đến 2003 - 2004, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá giỏi tăng đều (năm học 2003 - 2004 đạt 95,19% tốt nghiệp, trong đó tỷ lệ khá giỏi và xuất sắc chiếm trên 31%). Điều này khẳng định nếu có định hướng giáo dục đúng đắn, sinh viên hoàn toàn có khả năng tự điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách nghề nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện nhân cách sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, đổi mới căn bản nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng đạo đức. Đảng ủy, Ban Giám hiệu và Tổ Chính trị cần chuyển từ phương pháp truyền thụ một chiều sang đối thoại, thảo luận chuyên đề gắn với thực tiễn đời sống. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ sinh viên hào hứng tham gia sinh hoạt chính trị từ 24% hiện nay lên trên 65% trong giai đoạn 2004 - 2006.

Thứ hai, siết chặt kỷ luật học đường và cải tiến quy trình kiểm tra đánh giá. Phòng Đào tạo phối hợp cùng đội ngũ 165 cán bộ giảng viên thực hiện nghiêm túc quy chế phòng thi, kiên quyết xử lý các hành vi gian lận nhằm kéo giảm tỷ lệ mang tài liệu vào phòng thi từ 38% xuống dưới mức 5% trong vòng 2 năm học tới. Đồng thời, xây dựng tiêu chí rèn luyện tự học bắt buộc tối thiểu 3 tiếng mỗi ngày cho mỗi sinh viên.

Thứ ba, tái cấu trúc mô hình hoạt động của Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên. Tổ chức Đoàn cần chuyển đổi các buổi sinh hoạt định kỳ khô cứng thành các sân chơi kỹ năng, câu lạc bộ nghiệp vụ sư phạm chuyên sâu, bảo đảm thu hút 100% sinh viên tham gia chủ động. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng phát triển Đảng, phấn đấu kết nạp từ 15 đến 20 đảng viên mới là sinh viên ưu tú mỗi năm.

Thứ tư, nâng cao năng lực mô phạm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ giảng viên. Nhà trường cần định kỳ tổ chức hội thảo chuyên môn, bồi dưỡng phương pháp giảng dạy hiện đại cho đội ngũ giảng viên (trong đó có 3 tiến sĩ và 49 thạc sĩ), xây dựng mỗi giảng viên thành một tấm gương sáng về nhân cách và lối sống cho sinh viên noi theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc và là nguồn tài liệu quý báu cho các nhóm đối tượng sau:

Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường cao đẳng, đại học: Sử dụng nguồn tư liệu để hoạch định chính sách quản trị người học, xây dựng chuẩn đầu ra về phẩm chất nhân cách và thiết lập môi trường văn hóa học đường chuẩn mực.

Cán bộ Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên các trường đại học, cao đẳng: Khai thác các kết quả khảo sát tâm lý để đổi mới mô hình tập hợp thanh niên, thiết kế các chương trình ngoại khóa và câu lạc bộ nghiệp vụ phù hợp với nhu cầu sinh viên thế hệ mới.

Giảng viên giảng dạy các bộ môn Khoa học Xã hội, Lý luận Chính trị và Tâm lý học: Tham khảo khung lý thuyết duy vật biện chứng và hệ thống dữ liệu thực tế tại Nha Trang để làm phong phú giáo án, gắn kết lý luận triết học với thực tiễn giáo dục đạo đức.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Xã hội học, Giáo dục học: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp kết hợp giữa lý luận triết học Mác - Lênin với phương pháp điều tra xã hội học định lượng thực chứng.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là gì? Luận văn tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận triết học Mác - Lênin về nhân cách, phân tích thực trạng rèn luyện đạo đức và học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp xây dựng nhân cách người thầy tương lai.

Động cơ chọn nghề sư phạm của sinh viên được khảo sát phản ánh điều gì? Khảo sát trên 356 sinh viên chỉ ra 84,3% chọn ngành vì yêu nghề, 32,7% vì thu nhập ổn định và 15,1% theo ý muốn gia đình. Điều này chứng minh đa số sinh viên có xu hướng nghề nghiệp đúng đắn nhưng vẫn tồn tại tâm lý phụ thuộc.

Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng tiêu cực trong thi cử của sinh viên là gì? Hiện tượng 38% sinh viên mang tài liệu vào phòng thi bắt nguồn từ tư tưởng bình quân chủ nghĩa, thói quen học đối phó, thiếu phương pháp tự học khoa học và tác động từ lối sống thực dụng trong nền kinh tế thị trường.

Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát được thực hiện như thế nào? Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng trên 356 sinh viên thuộc 4 khoa: Tự nhiên (108 sinh viên), Xã hội (115 sinh viên), Ngoại ngữ (85 sinh viên) và Tiểu học (48 sinh viên), bảo đảm tính khách quan và bao quát toàn trường.

Giải pháp đột phá nào giúp nâng cao chất lượng hoạt động Đoàn - Hội tại trường? Đột phá nằm ở việc đổi mới nội dung sinh hoạt theo hướng gắn kết chuyên môn nghiệp vụ với các câu lạc bộ kỹ năng, khắc phục tính hình thức hành chính để nâng tỷ lệ yêu thích sinh hoạt chính trị lên trên 65%.

Kết luận

Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cấu trúc nhân cách người giáo viên cách mạng.

Phản ánh chân thực thực trạng học tập và rèn luyện thông qua số liệu khảo sát thực chứng từ 356 sinh viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang.

Làm rõ mâu thuẫn giữa nhận thức nghề nghiệp tích cực với các biểu hiện tiêu cực thực tế như 38% vi phạm thi cử và 35% thường xuyên đi học muộn.

Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cao, phân kỳ mục tiêu và phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể quản lý.

Đóng góp nguồn luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực sư phạm chất lượng cao cho tỉnh Khánh Hòa.

Các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm cần khẩn trương nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các phát kiến và giải pháp từ công trình này nhằm chuẩn hóa công tác đào tạo nhân cách cho thế hệ nhà giáo tương lai.