CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-497 TCN) nhà giáo dục lớn Trung Hoa trong các tác phẩm của mình: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu cũng đã rất coi trọng về lĩnh vực GDĐĐ. Vai trò, động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ xã hội được nhiều nhà khoa học ngày nay thừa nhận và các quốc gia quan tâm sâu sắc.
Bước sang thế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng thế giới đã đề cập đến vấn đề GDĐĐ cho SV như: A.Bazovich…Nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể của ông A.Makarenco được nhiều nhà sư phạm trên toàn thế giới quan tâm tìm hiểu. Trong xã hội loài người khi làm bất kỳ nghề gì cũng cần phải có đạo đức và đó được gọi là “đạo đức nghề nghiệp”. Ngành Y – Dược là ngành có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh, vì vậy, người làm nghề Y – Dược cần phải có những phẩm chất đạo đức đặc biệt là y đức. Từ lâu vấn đề đạo đức của người hành nghề y – dược luôn được toàn xã hội quan tâm.
Thomas Sydenhan (thế kỷ XVII) cho rằng: thầy thuốc là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng. Từ thời cổ đại Hy Lạp, cách đây 2000 năm Hyppocrat đã tuyên thệ với lời thề Hyppocrat, trước khi bước vào hành nghề Y – dược: Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và cần thiết. Từ đầu thế kỷ XIX những vấn đề về đạo đức của nghề y – dược đã được nghiên cứu trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ y khoa Trường Đại học tổng hợp Matxcova, nhà nội khoa lớn nhất ở nửa đầu thế kỷ XIX là M.Lamucdrop giảng rằng: Thầy thuốc phải khiêm tốn và thận trọng, đối với bệnh nhân phải thương yêu.Mukhin người được bệnh nhân rất thương yêu, lời tựa của ông viết trong một chương về giải phẫu học bằng lời nói nổi tiếng sau: 5 vì lợi ích, danh dự, vinh quang của tổ quốc, các bạn luôn luôn là tấm gương lớn nhất. Những nghiên cứu ở trong nước Trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề GDĐĐ, quản lý hoạt động GDĐĐ như: Nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu Việt Nam – Phạm Minh Hạc – Về sự phát triển con người trong thời kỳ CNH, HĐH.
NXB Chính trị Quốc gia – 2001 và tác phẩm nghiên cứu Đạo đức học của Phạm Khắc Cương – Nguyễn Thị Yến Phương, NXB Đại học Sư phạm, 2005. Về đạo đức người làm nghề y – dược, từ xưa cũng đã có rất nhiều nghiên cứu để lại như: Tác giả Nguyễn Bá Tĩnh (1326-1399) đạo làm thuốc của ông là tích cực làm điều lành, cứu giúp nhân dân. Đến đầu thế kỷ XVIII Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) ông đã dạy người làm nghề Y – dược trong cuốn Âm án và Dương án, ông nêu ra 8 đức tính của người lương y: Nhân, minh, trí, đức, thành, lương, khiêm, cần và 8 điều tội lỗi mà người hành nghề y phải tránh: Lười, keo kiệt, bủn xỉn, tham, lừa dối, bất nhân, hẹp hòi, thất đức, dốt nát. Trong thư gửi CB y tế ngày 27/02/1955 Bác Hồ đã dạy: “Cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”, Người nhấn mạnh: “Lương y phải như từ mẫu”.
Trong thực tế hiện nay, những người làm công tác trong nghề y – dược đều hết lòng phục vụ người bệnh, họ luôn thể hiện là người có một y đức cao cả, trong sáng, chân tình. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận nhỏ CB y – dược thiếu tinh thần trách nhiệm, có thái độ thờ ơ lạnh nhạt với người bệnh. Một số thầy thuốc lơ là hoạt động chuyên môn, gây phiền hà và sách nhiễu trong các khâu khám chữa bệnh và cấp phát thuốc cho người bệnh. Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho SV, tìm một số biện pháp trong quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ cho SV Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ và quan trọng hơn nữa là góp phần GDĐĐ cho SV ngay khi các em còn 6 ngồi trên ghế nhà trường để sau này khi ra trường họ trở thành người CB y – dược có đủ tài lẫn đức, phục vụ tốt việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho SV. Khái niệm Giáo dục đạo đức 1. Giáo dục Giáo dục (education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. Giáo dục thường xuyên diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.
Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Từ cách hiểu này, giáo dục là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người. Hoạt động giáo dục gắn liền với việc hình thành nhân cách và xã hội hóa con người. Hình thành nhân cách là quá trình phát triển con người về mặt sinh lý, tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất.
Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…) và các nhân tố bên ngoài (ảnh hưởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của tác động tự phát, ngẫu nhiên ( tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển và các tác động có mục đích, có tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được). Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thành thành một nhân cách. Xã hội hóa con người: là quá trình có tính chất xã hội hình thành nhân cách. Quá trình này chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội tác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặt khác cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hội bằng hoạt động, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã hội.
Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư sử 7 đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực. Chức năng của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiện trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành vi. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt: một quá trình trong đó dưới tác động có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp của người giáo viên với tư cách là nhà giáo dục, nhà sư phạm, học sinh tự giác, tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện nhằm hình thành thế giới quan và những phẩm chất nhân cách tốt đẹp của người công dân tương lai. Trong quá trình giáo dục, giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển hoạt động giáo dục đối với HSSV.
Nội dung giáo dục quy định hệ thống những chuẩn mực xã hội cần được giáo dục cho HSSV về các mặt giáo dục tư tưởng, đạo đức lao động, giáo dục thể chất, thẩm mĩ…Nó tạo nên nội dung hoạt động của nhà giáo dục cũng như nội dung tự giáo dục, tự tu dưỡng của người được giáo dục. Nội dung giáo dục chịu sự chi phối của mục đích, nhiệm vụ giáo dục, mặt khác nội dung giáo dục lại chi phối việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện giáo dục nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ giáo dục. Phương pháp, phương tiện giáo dục là những cách thức những phương tiện hoạt động phối hợp thống nhất của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, của giáo viên và HSSV nhằm giúp cho HSSV chuyển hóa dần những chuẩn mực xã hội thành hành vi và thói quen tương ứng. Phương pháp, phương tiện giáo dục chịu sự chi phối của mục đích, nhiệm vụ và nội dung giáo dục.
Mặt khác, nó lại là hình thức và cách thức vận động bên trong của nội dung, nó giúp cho nội dung giáo dục được chuyển hóa thành vốn kinh nghiệm riêng của người được giáo dục sao cho phù hợp với mục đích và các nhiệm vụ giáo dục. Như vậy, giáo dục là hoạt động được tổ chức một cách có kế hoạch, có nội dung, phương pháp, phương tiện của người dạy và người học nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ giáo dục. Đó là hoạt động phối hợp, thống nhất của chủ thể và đối tượng giáo dục nhằm biến các yêu cầu khách quan của xã hội thành nhu cầu phát triển chủ quan của mỗi HSSV. Đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là một mặt của đời sống xã hội con người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng 8 xã hội quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức, tuy nhiên có thể hiểu đạo đức một cách khái quát như: Theo quan điểm của Mác – Lênin: Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích cá nhân, tập thể và sự tiến bộ xã hội. Đạo đức chịu ảnh hưởng giáo dục của gia đình, xã hội, dân tộc, tôn giáo và giai cấp. Bàn về đạo đức không thể không nói tới quan niệm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quan niệm đạo đức là: “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, chính” [12, tr.