Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý GDĐĐNN cho học viên CSND Chương 2: Thực trạng quản lý GDĐĐNN cho học viên trường Cao đẳng CSND I Chương 3: Các biện pháp quản lý GDĐĐNN cho học viên trường Cao đẳng CSND I trong giai đoạn hiện nay 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CẢNH SÁT NHÂN DÂN 1. Một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân 1. Các khái niệm cơ bản 1. Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp Đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp, có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức.
Ở mỗi góc độ lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, các tác giả đưa ra những quan điểm, định nghĩa khác nhau về đạo đức. Cụ thể: Theo tác giả Phạm Khắc Chương “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội”[18, tr. Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan điểm về cái thiện và cái ác trong các mối quan hệ của con người” [42, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Tập: "Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình” [37, tr.
Theo tác giả Trần Hậu Kiểm "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, yêu cầu, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [29, tr. Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương, "Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [20, tr. 8 Đạo đức theo nghĩa hẹp là những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.
Trong điều kiện hiện nay khi quan hệ con người được mở rộng, đạo đức bao gồm những quy định những chuẩn mực ứng xử của con người với bản thân, với con người, với công việc, với thiên nhiên, với môi trường sống. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt của nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.
Ngày nay, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới. Theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả.
Từ những quan niệm khác nhau ở trên, có thể khái quát đạo đức là một hệ thống các quy tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích cá nhân và của cộng đồng, chúng được đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội. - Nghề nghiệp: Theo từ điển Tiếng Việt “Nghề nghiệp là một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời”[32, tr. Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. Như vậy, có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.
- Đạo đức nghề nghiệp: Ph.Ăng ghen khi bàn về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp đã viết: "Trong thực tế, mỗi giai cấp và ngay mỗi nghề nghiệp đều có đạo 9 đức riêng của mình" [43,tr. Như vậy, đạo đức được coi là phương thức cơ bản dùng để điều chỉnh thái độ và hành vi của con người trong các mối quan hệ, hoạt động xã hội. Trong lao động, trong hoạt động nghề nghiệp càng cần phải có những quy tắc, chuẩn mực đạo đức cùng với pháp luật, kỷ luật điều chỉnh hoạt động các thành viên để tránh những vi phạm quy ước hoạt động chung đó. Trong quá trình CNH và HĐH đất nước, mỗi thành viên của xã hội phải lấy: Yêu công việc, yêu nghề nghiệp, làm việc có tâm huyết, trách nhiệm, kỷ cương, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, không ngừng cống hiến cho Tổ quốc.làm nội dung chủ yếu của đạo đức nghề nghiệp.
Đó là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung mà tất cả các ngành nghề đều phải tuân theo. Như vậy, đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc, chuẩn mực phản ánh mối quan hệ giữa con người với công việc, con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi của những người hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp đáp ứng với đòi hỏi đặc thù do tính chất, đặc điểm nghề nghiệp đặt ra. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp Giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đào tạo, bồi dưỡng con người một cách toàn diện trên tất cả các mặt: đức, trí, thể, mỹ. Giáo dục đạo đức là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung của giáo dục.
GDĐĐNN là quá trình tác động có hệ thống đến người học nhằm hình thành, phát triển những chuẩn mực đạo đức riêng có, đặc thù của mỗi nghề nghiệp. Mục đích của GDĐĐNN là trang bị cho người học những tri thức, chuẩn mực về đạo đức. Hình thành thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, với mọi người, với nghề nghiệp. Nội dung của GDĐĐNN rất đa dạng, phong phú và mang tính đặc thù riêng của mỗi nghề nghiệp.
Chủ thể của tiến hành GDĐĐNN là cán bộ QLGD, giảng viên, các tổ chức Đảng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Trong đó cán bộ QLGD, giảng viên giữ vai trò trực tiếp và quan trọng nhất. Như vậy, GDĐĐNN là một hệ thống các hoạt động, các giải pháp nhằm giáo dục những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho người học để khi hành nghề, mỗi cá nhân biết kết hợp hài hòa giữa năng lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp của chiến sĩ Cảnh sát nhân dân Công an nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; xây dựng, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Là một lực lượng trong CAND, CSND có nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về TTATXH. Đạo đức nghề nghiệp của chiến sĩ CSND bao gồm một hệ thống các chuẩn mực mà nội dung cốt lõi là đạo lý yêu nước, giàu lòng nhân ái, xây dựng phong cách làm việc văn minh, lối sống và ứng xử văn hóa, vì nhân dân phục vụ, đồng thời hướng tới và giữ gìn nét đẹp: chân, thiện, mỹ truyền thống của con người Việt Nam. Cụ thể các phẩm chất đạo đức đó là: Luôn nêu cao tinh thần yêu nước và hành động yêu nước; tận trung với nước, tận hiếu với dân; thực hiện tốt 6 điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy CAND; Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; có ý thức đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; kiên quyết chống các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, sách nhiễu nhân dân,… Có phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; có ý thức tự học hỏi vươn lên, học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao trình độ mọi mặt trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực công tác được giao; Có tinh thần tiên phong, xung kích tình nguyện đi đầu đảm nhận các việc khó, việc khổ nơi vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo…; thực hiện tốt khẩu hiệu hành động “CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Có ý thức xây dựng đoàn kết nội bộ trong tập thể đơn vị; tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp.
Có lòng yêu ngành, yêu nghề, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên Cảnh sát nhân dân 1. Khái niệm Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên CSND là một hệ thống các hoạt động, các giải pháp nhằm giáo dục những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của 11 người chiến sĩ CSND. Đó là quá trình làm chuyển hóa các giá trị, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trở thành nhu cầu thiết yếu bên trong của học viên CSND, giúp họ kết hợp hài hòa giữa năng lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp.