Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế và là trung tâm phân phối khách du lịch lớn nhất cả nước, chiếm trung bình khoảng 60% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Trong giai đoạn 2001 - 2013, tốc độ tăng trưởng du lịch của thành phố ghi nhận những bước tiến ấn tượng: lượng khách quốc tế tăng từ 1,4 triệu lượt năm 2001 lên hơn 4,0 triệu lượt vào năm 2013, đóng góp đáng kể vào quy mô tổng sản phẩm nội địa đạt 764.444 tỷ đồng của đô thị. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành đang đối mặt với nút thắt lớn khi nguồn nhân lực du lịch tại chỗ mới chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu thực tế của thị trường, đồng thời còn bộc lộ nhiều điểm yếu về trình độ chuyên môn, kỹ năng ngoại ngữ và tác phong công nghiệp.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự mất cân đối giữa quy mô tăng trưởng du lịch với chất lượng và cơ cấu đội ngũ lao động. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn tập trung vào ba nội dung: hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực du lịch dưới góc độ Kinh tế chính trị; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng nhân lực du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2013; từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2013 - 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phạm vi nghiên cứu bao quát lực lượng lao động trong các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn 24 quận, huyện của thành phố. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp cơ sở khoa học để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên nghiệp đạt trên 85%, giảm thiểu hao phí sức lao động xã hội và gia tăng giá trị đóng góp của ngành du lịch vào GDP đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò trung tâm của con người trong lực lượng sản xuất, khẳng định người lao động là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần. Đồng thời, đề tài kế thừa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI (xác định phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao là 1 trong 3 khâu đột phá chiến lược) và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (đưa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vào 1 trong 6 chương trình đột phá kinh tế - xã hội). Kết hợp với lý thuyết vốn nhân lực hiện đại, nghiên cứu làm rõ các khái niệm nền tảng:

  • Nguồn nhân lực ngành du lịch: Tổng thể lực lượng lao động trực tiếp (lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp, hướng dẫn viên) và lao động gián tiếp (quản lý nhà nước, điều hành doanh nghiệp) tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch.
  • Phát triển nguồn nhân lực du lịch: Quá trình hoàn thiện và nâng cao năng lực của người lao động trên 3 phương diện thống nhất: thể lực (sức khỏe, sức bền, độ dẻo dai thần kinh), trí lực (trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công nghệ, ngoại ngữ) và tâm lực (đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ, lòng yêu nước và ý thức giữ gìn văn hóa).
  • Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS): Hệ thống chuẩn mực nghề nghiệp làm thước đo đánh giá năng lực tác nghiệp và quản lý theo chuẩn khu vực ASEAN.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm xem xét nguồn nhân lực trong sự vận động gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch cùng các báo cáo ngành giai đoạn 2001 - 2013.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu của hơn 1.000 cơ sở lưu trú, đơn vị lữ hành và các phòng ban chuyên trách trên địa bàn 24 quận, huyện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng cho 3 nhóm đối tượng: cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ quản lý doanh nghiệp và lao động tác nghiệp trực tiếp tại các khách sạn từ 1 đến 5 sao. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu được lựa chọn nhằm đối chiếu thực tiễn phát triển nhân lực Thành phố Hồ Chí Minh với kinh nghiệm của Singapore (đầu tư 265 triệu SGD cho nhân lực du lịch năm 2012), Thái Lan, cùng hai địa phương tiêu biểu trong nước là Quảng Ninh (bồi dưỡng gần 6.000 lượt lao động) và Bà Rịa - Vũng Tàu (tổ chức hơn 100 khóa đào tạo chuyên sâu).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Tăng trưởng nhanh về quy mô nhưng mất cân đối cung - cầu: Lực lượng lao động du lịch thành phố tăng trưởng liên tục cùng nhịp độ mở rộng thị trường (lượng khách quốc tế tăng từ 1,4 triệu lượt năm 2001 lên hơn 4,0 triệu lượt năm 2013), song nguồn cung nhân lực qua đào tạo chuyên nghiệp chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu vận hành thực tế của các doanh nghiệp.
  • Hạn chế về chất lượng tay nghề và trình độ ngoại ngữ: Hơn 45% lao động trực tiếp trong các cơ sở kinh doanh du lịch chưa đạt chứng chỉ nghề theo chuẩn VTOS; tỷ lệ nhân sự sử dụng thành thạo ngoại ngữ thứ hai (ngoài tiếng Anh) chỉ đạt dưới 15%, gây khó khăn lớn trong việc khai thác các thị trường khách du lịch tiềm năng.
  • Cơ cấu đào tạo chưa đồng đều giữa quản lý và tác nghiệp: Khối cán bộ quản lý nhà nước và doanh nghiệp có trình độ đại học trở lên chiếm tỷ lệ cao (trên 80%), tuy nhiên tỷ lệ cán bộ được đào tạo chuyên sâu về quản trị du lịch hiện đại và kinh tế đối ngoại còn dưới 40%.
  • Chưa phát huy tối đa lợi thế dân số vàng: Thành phố sở hữu quy mô dân số gần 8 triệu người năm 2013 với 70% trong độ tuổi lao động, nhưng tỷ lệ lao động trẻ được định hướng nghề nghiệp và đào tạo bài bản trong ngành du lịch chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 5% tổng lực lượng lao động dịch vụ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu gắn kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động. Chương trình giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng vẫn nặng về lý thuyết hàn lâm (chiếm hơn 65% thời lượng), thiếu cơ sở vật chất thực hành mô phỏng tiêu chuẩn khách sạn quốc tế. Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ, tiền lương và cơ hội thăng tiến chưa đủ sức cạnh tranh, dẫn đến tỷ lệ dịch chuyển lao động từ ngành du lịch sang các ngành tài chính, thương mại dao động ở mức 15 - 20% mỗi năm.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, thực trạng này có thể được trình bày rõ nét thông qua biểu đồ cột kép so sánh tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch (tăng bình quân trên 15%/năm) với tốc độ tăng trưởng nhân lực đạt chuẩn (chỉ đạt khoảng 7 - 8%/năm); kết hợp bảng phân bổ cơ cấu lao động theo ngành nghề: khối lưu trú và ăn uống chiếm 65%, khối lữ hành và hướng dẫn chiếm 20%, khối vận chuyển và dịch vụ bổ trợ chiếm 15%. So sánh với bài học từ Singapore và Thái Lan, việc thiếu vắng một cơ chế hợp tác công - tư chặt chẽ trong đào tạo nghề đang khiến năng suất lao động du lịch Thành phố Hồ Chí Minh chỉ bằng khoảng 40% so với mức trung bình của khu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện cơ chế chính sách và quản lý nhà nước: Ban hành quy hoạch tổng thể phát triển nhân lực du lịch gắn với tiêu chuẩn VTOS và thỏa thuận MRA-TP của ASEAN; mục tiêu đạt 100% doanh nghiệp lữ hành và khách sạn 3 - 5 sao áp dụng chuẩn nghề nghiệp quốc gia; lộ trình triển khai từ năm 2014 đến 2016; chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố và Sở Du lịch.
  • Tái cấu trúc chương trình giáo dục - đào tạo: Điều chỉnh khung chương trình đào tạo theo hướng tăng thời lượng thực hành lên 70% và giảm lý thuyết xuống 30%; mục tiêu bảo đảm trên 90% sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên môn trong vòng 6 tháng; thời gian thực hiện 2015 - 2018; chủ thể thực hiện là hệ thống các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành du lịch.
  • Đẩy mạnh hợp tác công - tư và liên kết quốc tế: Xây dựng cơ chế hợp tác tài chính giữa nhà nước và doanh nghiệp nhằm đầu tư phòng thực hành đạt chuẩn 5 sao; huy động nguồn vốn xã hội hóa tăng trưởng 20%/năm; ký kết các chương trình trao đổi giảng viên, sinh viên quốc tế trong giai đoạn 2015 - 2020; chủ thể thực hiện là Hiệp hội Du lịch phối hợp cùng các tập đoàn lữ hành lớn.
  • Cải thiện chính sách đãi ngộ và nâng cao phẩm chất người lao động: Xây dựng thang bảng lương cạnh tranh, bổ sung phụ cấp ngoại ngữ và môi trường làm việc đặc thù; mục tiêu kéo giảm tỷ lệ luân chuyển lao động xuống dưới 10%/năm; tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về văn hóa ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và thể lực cho 10.000 lượt lao động/năm trong giai đoạn 2014 - 2020; chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Giúp Sở Du lịch, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh hoạch định chiến lược phát triển nhân lực, xây dựng cơ chế cấp chứng chỉ hành nghề và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy quản lý ngành.
  • Các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề du lịch: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng để đổi mới khung giáo trình, phân bổ tỷ lệ lý thuyết - thực hành hợp lý và xây dựng chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng thực tế của doanh nghiệp.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp du lịch: Ứng dụng các giải pháp trong luận văn để tối ưu hóa quy trình tuyển dụng, thiết kế chính sách đãi ngộ giữ chân nhân tài và tổ chức các chương trình đào tạo nội bộ theo chuẩn VTOS.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên: Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học, khung phương pháp phân tích kinh tế chính trị về phát triển con người, đóng vai trò là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế dịch vụ đô thị.

Câu hỏi thường gặp

  • Nguồn nhân lực ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2013 đáp ứng bao nhiêu phần trăm nhu cầu thực tế? Nguồn nhân lực du lịch thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu của thị trường. Nguyên nhân do tốc độ tăng trưởng lượng khách quốc tế quá nhanh (đạt hơn 4,0 triệu lượt vào năm 2013), trong khi năng lực đào tạo của các trường chưa bắt kịp cả về quy mô lẫn chất lượng kỹ năng thực hành.

  • Ba phương diện cấu thành chất lượng nguồn nhân lực du lịch trong nghiên cứu là gì? Chất lượng nguồn nhân lực được cấu thành bởi ba yếu tố: thể lực (sức khỏe bền bỉ, thích nghi áp lực công việc), trí lực (kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu, ngoại ngữ thành thạo, khả năng ứng dụng công nghệ) và tâm lực (đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ tận tâm, tinh thần tự tôn văn hóa).

  • Cơ cấu dân số vàng đóng góp lợi thế gì cho sự phát triển nhân lực du lịch thành phố? Với khoảng 70% dân số trong độ tuổi lao động trên tổng số 8 triệu dân năm 2013, thành phố sở hữu nguồn cung lao động trẻ dồi dào, có khả năng tiếp thu công nghệ và hội nhập nhanh chóng, là nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu sang ngành dịch vụ chất lượng cao.

  • Kinh nghiệm quốc tế nào từ Singapore có giá trị tham khảo lớn nhất cho Thành phố Hồ Chí Minh? Singapore đã đầu tư 265 triệu SGD cho phát triển nhân lực du lịch vào năm 2012, chú trọng mở các trung tâm đào tạo mô phỏng thực tế và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh có thể áp dụng mô hình này để chuẩn hóa kỹ năng thực hành cho học viên trước khi tốt nghiệp.

  • Tiêu chuẩn VTOS đóng vai trò như thế nào đối với nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2013 - 2020? Tiêu chuẩn VTOS đóng vai trò là khung năng lực nghề nghiệp chuẩn mực gồm 13 nghề cốt lõi, giúp đồng bộ hóa chương trình giảng dạy của nhà trường với yêu cầu tuyển dụng thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận trình độ lao động trong khối ASEAN.

Kết luận

  • Luận văn làm rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người đối với sự phát triển bền vững của ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Thực trạng giai đoạn 2001 - 2013 chỉ ra khoảng trống lớn khi nhân lực mới đáp ứng khoảng 60% nhu cầu và thiếu hụt kỹ năng chuẩn VTOS.
  • Đề tài xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào hoàn thiện cơ chế, đổi mới đào tạo, đẩy mạnh liên kết công - tư và cải cách chính sách đãi ngộ.
  • Lộ trình 2013 - 2020 đặt mục tiêu chuẩn hóa trên 85% lao động du lịch, sẵn sàng hội nhập sâu rộng vào thị trường lao động khu vực ASEAN.
  • Các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp hành động ngay hôm nay để đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đô thị.