Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện nằm trong nhóm 15 quốc gia có số lượng người sử dụng thuốc lá cao nhất trên thế giới, với hơn 15 triệu nam giới trưởng thành hút thuốc, tương đương tỷ lệ 47,4% theo khảo sát năm 2010. Việc lạm dụng các sản phẩm thuốc lá gây ra gánh nặng sức khỏe nghiêm trọng khi chiếm tới 62% tổng số ca tử vong do các bệnh không lây nhiễm tại nước ta. Bên cạnh tổn thất to lớn về nhân mạng, thuốc lá còn gây thiệt hại kinh tế trầm trọng; chỉ riêng chi phí điều trị nội trú cho 3 căn bệnh phổ biến liên quan đến thuốc lá là ung thư phổi, bệnh tim do thiếu máu cục bộ và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đã vượt quá 1.100 tỷ đồng vào năm 2005, trong khi tổng mức chi tiêu xã hội cho thuốc lá hàng năm ước tính lên tới hơn 8.213 tỷ đồng.

Trước thực trạng mức thuế thuốc lá tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 41% đến 45% giá bán lẻ, thấp hơn rất nhiều so với khuyến nghị từ 65% đến 80% của Tổ chức Y tế Thế giới, việc ban hành các chính sách kiểm soát giá trở thành yêu cầu cấp thiết. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề nhận diện, lượng hóa toàn diện các chi phí và lợi ích kinh tế - xã hội của chính sách tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là xây dựng mô hình mô phỏng nhằm đánh giá tác động của 3 kịch bản tăng thuế tiêu thụ đặc biệt (75%, 86% và 100%) trong giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2017 đối với nguồn thu ngân sách nhà nước, số lượng ca tử vong sớm được ngăn chặn và chi phí y tế tiết kiệm được. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt khi cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và bằng chứng khoa học vững chắc phục vụ việc thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế phúc lợi và lý thuyết thuế hiệu chỉnh Pigou đối với hàng hóa tạo ra ngoại tác tiêu cực. Khi thị trường tự do thất bại trong việc tự điều tiết hành vi tiêu dùng thuốc lá do tính chất gây nghiện và chi phí ngoại ứng y tế mà người hút thuốc gây ra cho người xung quanh, nhà nước sử dụng công cụ thuế tiêu thụ đặc biệt để dịch chuyển đường cung, giảm thiểu tổn thất phúc lợi xã hội ròng.

Khung phân tích chi phí - lợi ích (CBA) được mở rộng từ phân tích tài chính truyền thống để lượng hóa toàn bộ tác động kinh tế và phi kinh tế của chính sách. Các khái niệm và chỉ số cốt lõi trong mô hình bao gồm: Chi phí cơ hội kinh tế của vốn công (EOCK) làm suất chiết khấu xã hội; Hiện giá thuần của dòng tiền ròng (NPV) phản ánh lợi ích ròng tích lũy; Tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C); Độ co giãn của cầu theo giá; Tỷ lệ quy thuộc thuốc lá (SAF) và Nguy cơ tương đối (RR); cùng Giá trị hiện tại của thu nhập trọn đời (PVLE) dùng để ước lượng giá trị sinh mạng con người được cứu sống.

Phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu kế thừa khung mô phỏng kinh tế lượng dịch tễ của Van Walbeek, Howard Reed và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành (GATS 2010) với cỡ mẫu đại diện gần 10.000 người trên 63 tỉnh thành, kết hợp dữ liệu Điều tra mức sống dân cư (VHLSS các năm 1998, 2002, 2006) với phương pháp chọn mẫu phân tầng nhiều giai đoạn bao phủ hơn 30.000 hộ gia đình trên toàn quốc.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chi phí - lợi ích kết hợp mô phỏng theo 4 nhóm tuổi (15-24, 25-44, 45-64, từ 65 trở lên) là vì công cụ này cho phép quy đổi đồng nhất các biến số phi tiền tệ như số ca tử vong tránh được và ngày công lao động tổn thất về giá trị tiền tệ hiện tại. Nghiên cứu sử dụng suất chiết khấu xã hội 3,5% mỗi năm để đánh giá dòng lợi ích trong chu kỳ 5 năm (2014-2017), đồng thời tiến hành phân tích độ nhạy với 3 mức độ co giãn của cầu (thấp, trung bình, cao) nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quả dự báo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt từ 65% lên các mức 75%, 86% và 100% làm tăng giá bán lẻ thực tế của thuốc lá từ 12,4% đến 38,2%, qua đó làm suy giảm đáng kể tỷ lệ hút thuốc và sản lượng tiêu thụ toàn thị trường. Trong đó, thanh thiếu niên nhóm tuổi 15-24 thể hiện độ nhạy cảm cao nhất với độ co giãn cầu ước tính khoảng -0,70, giúp giảm tỷ lệ hút thuốc trong nhóm này từ 4,2% đến 9,5% tùy theo từng kịch bản tăng thuế.

Thứ hai, chính sách tăng thuế mang lại lợi ích y tế và xã hội to lớn thông qua việc ngăn chặn hàng chục nghìn ca tử vong sớm và giảm thiểu gánh nặng bệnh tật. Đối với 5 căn bệnh chính do khói thuốc gây ra gồm ung thư phổi, ung thư thực quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tim mạch và đột quỵ (chiếm tới 80% gánh nặng bệnh tật thuốc lá), mô hình ước tính tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng chi phí điều trị nội trú, ngoại trú và giảm thiểu tổn thất năng suất lao động xã hội.

Thứ ba, chính sách tạo ra lợi ích kép vượt trội khi vừa cải thiện sức khỏe cộng đồng vừa gia tăng nguồn thu ngân sách nhà nước từ 18,5% đến 35,2% so với mức cơ sở. Kết quả tính toán chỉ số hiệu quả xã hội cho thấy tất cả các kịch bản đều đạt giá trị NPV dương lớn, với tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C) đạt từ 3,5 đến 7,8 lần, khẳng định tính khả thi kinh tế vượt trội của việc tăng thuế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản giúp chính sách thành công là do độ co giãn của cầu thuốc lá chung tại Việt Nam tương đối kém co giãn (trung bình khoảng -0,35 đến -0,53 ở người trưởng thành), khiến tốc độ giảm lượng tiêu thụ chậm hơn tốc độ tăng thu thuế trên mỗi đơn vị sản phẩm. Sự phân hóa hành vi theo độ tuổi chứng minh rằng giá cao đóng vai trò như rào cản tài chính hữu hiệu ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia châu Âu có tỷ trọng thuế chiếm trên 70% đến 81% giá bán lẻ cũng như các báo cáo kinh tế của Ngân hàng Thế giới. Trong các báo cáo phân tích chính sách, dữ liệu kết quả có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu hiện giá thuần NPV giữa các kịch bản thuế và biểu đồ đường đa biến mô tả mối quan hệ nghịch chiều giữa chỉ số giá bán lẻ với tỷ lệ hiện nhiễm thuốc lá phân theo 4 nhóm nhân khẩu học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt theo lộ trình rõ ràng. Bộ Tài chính cần chủ trì phối hợp với Quốc hội sửa đổi Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, điều chỉnh tăng thuế suất từ 65% lên 75% trong giai đoạn 2014-2015 và tiếp tục nâng lên 86% đến 100% trong giai đoạn 2016-2018, nhằm đưa tỷ trọng thuế trong giá bán lẻ đạt mức tối thiểu 65% theo khuyến nghị quốc tế.

Thứ hai, chuyển đổi cơ chế tính thuế sang phương pháp thuế hỗn hợp. Bộ Tài chính cần nghiên cứu áp dụng mức thuế tuyệt đối bổ sung từ 1.000 đến 2.000 đồng trên mỗi bao thuốc lá bên cạnh thuế suất theo tỷ lệ phần trăm từ năm 2016. Giải pháp này giúp thu hẹp khoảng cách chênh lệch giá giữa các phân khúc thuốc lá, ngăn chặn tình trạng người tiêu dùng chuyển dịch sang sử dụng các nhãn hiệu thuốc lá giá rẻ.

Thứ ba, tăng cường năng lực kiểm soát thị trường và phòng chống buôn lậu. Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, lực lượng Hải quan và Quản lý thị trường cần siết chặt kiểm tra tại các tuyến biên giới trọng điểm, đặt mục tiêu kiềm chế và kéo giảm tỷ lệ thuốc lá lậu thâm nhập thị trường nội địa xuống dưới 10% trong vòng 3 năm kể từ khi chính sách thuế mới có hiệu lực.

Thứ tư, tái phân bổ nguồn thu từ thuế cho các chương trình y tế dự phòng. Bộ Tài chính và Bộ Y tế cần hoàn thiện cơ chế trích lập từ 1% đến 2% tổng số thu thuế tiêu thụ đặc biệt thuốc lá bổ sung hàng năm, ước tính khoảng 200 đến 400 tỷ đồng, để cấp ngân sách cho Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá nhằm đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông giáo dục sức khỏe và mở rộng dịch vụ tư vấn cai nghiện miễn phí tại tuyến y tế cơ sở từ năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và chuyên viên phân tích tại Bộ Tài chính và Bộ Y tế. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các kết quả mô phỏng độ co giãn cầu, dự báo số thu ngân sách và ước tính gánh nặng y tế làm căn cứ thực chứng để xây dựng phương án điều chỉnh biểu thuế tiêu thụ đặc biệt và hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành luật.

Thứ hai, các chuyên gia nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Kinh tế công, Tài chính công và Kinh tế y tế. Công trình là tài liệu học thuật giá trị minh họa cho phương pháp ứng dụng phân tích chi phí - lợi ích (CBA), kỹ thuật ước lượng chi phí cơ hội của vốn công (EOCK) và lượng hóa giá trị sinh mạng con người (PVLE) trong thẩm định chính sách công.

Thứ ba, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Kinh tế, Quản lý công và Y tế công cộng. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận liên ngành kết hợp giữa kinh tế lượng và dịch tễ học, hỗ trợ người học trau dồi kỹ năng xử lý dữ liệu vi mô từ các bộ điều tra dân số lớn như GATS và VHLSS.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực y tế như WHO, HealthBridge và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Các tổ chức này có thể trích dẫn hệ số lợi ích chi phí B/C và các chỉ số giảm thiểu tử vong để làm tài liệu vận động chính sách kiểm soát thuốc lá và đánh giá tiến độ thực hiện Công ước Khung FCTC tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá có làm sụt giảm nguồn thu ngân sách nhà nước không? Hoàn toàn không, vì độ co giãn của cầu thuốc lá theo giá tại Việt Nam tương đối kém co giãn, dao động trong khoảng từ -0,35 đến -0,53. Mức tăng thu thuế trên mỗi bao thuốc lá bán ra vượt xa tỷ lệ sụt giảm về sản lượng tiêu thụ, giúp tổng thu ngân sách tăng trưởng thêm từ 18,5% đến 35,2% qua các kịch bản tăng thuế lên 75% hoặc 100%.

Vì sao nhóm đối tượng thanh thiếu niên lại nhạy cảm nhất với sự biến động giá thuốc lá? Nhóm thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi có mức thu nhập còn phụ thuộc và chưa hình thành mức độ phụ thuộc nicotine sâu sắc, dẫn đến độ co giãn của cầu theo giá đạt xấp xỉ -0,70, cao gần gấp đôi người lớn tuổi. Khi giá thuốc lá tăng 10%, tỷ lệ người trẻ bắt đầu hút hoặc tiếp tục hút thuốc sẽ giảm tới khoảng 7%.

Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) có điểm gì ưu việt hơn phân tích tài chính đơn thuần? Phân tích tài chính thông thường chỉ ghi nhận các dòng tiền mặt trực tiếp của ngân sách nhà nước và doanh nghiệp sản xuất. Ngược lại, phân tích CBA xem xét phúc lợi toàn xã hội bằng cách lượng hóa giá trị sinh mạng con người được bảo toàn và chi phí y tế tiết kiệm được hơn 1.100 tỷ đồng về các giá trị tiền tệ tương đương.

Tỷ trọng thuế thuốc lá hiện nay của Việt Nam đang chênh lệch như thế nào so với tiêu chuẩn quốc tế? Mức thuế thuốc lá tại Việt Nam vào thời điểm nghiên cứu chỉ chiếm khoảng 41% đến 45% giá bán lẻ, thấp hơn rất nhiều so với khuyến cáo 65% đến 80% của Ngân hàng Thế giới. Tại nhiều nước phát triển như Pháp, Đức, Anh hay Đan Mạch, thuế chiếm tỷ trọng từ 69% đến 81% trong giá bán lẻ thuốc lá.

Việc tăng thuế thuốc lá có phải là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng hoạt động buôn lậu không? Báo cáo của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Y tế Thế giới chỉ ra rằng buôn lậu thuốc lá chủ yếu bắt nguồn từ sự lỏng lẻo trong quản lý biên giới và chế tài xử phạt yếu kém, chứ không phụ thuộc thuần túy vào thuế suất. Biện pháp then chốt là tăng cường thực thi pháp luật và kiểm soát mạng lưới phân phối.

Kết luận

  • Luận văn áp dụng thành công mô hình phân tích chi phí - lợi ích (CBA) để đánh giá toàn diện các tác động kinh tế và y tế của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt thuốc lá tại Việt Nam.
  • Kết quả nghiên cứu chứng minh việc tăng thuế suất lên 75%, 86% hoặc 100% mang lại hiệu quả xã hội vượt trội với tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C) đạt từ 3,5 đến 7,8 lần và giá trị hiện tại ròng NPV luôn dương.
  • Chính sách đảm bảo thực hiện mục tiêu kép: vừa tăng thu ngân sách nhà nước từ 18,5% đến 35,2%, vừa ngăn chặn hàng chục nghìn ca tử vong sớm do 5 bệnh lý tim mạch, ung thư và hô hấp nguy hiểm.
  • Lộ trình thực hiện cần được khẩn trương triển khai trong giai đoạn 2014-2018 kết hợp cơ chế thuế hỗn hợp và tái phân bổ tối thiểu 1% nguồn thu cho công tác phòng chống tác hại thuốc lá.
  • Các cơ quan lập pháp và hành pháp cần sớm thể chế hóa các giải pháp tăng thuế để tối đa hóa phúc lợi xã hội và bảo vệ sức khỏe cho các thế hệ tương lai.