Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam đã có bước tăng trưởng vượt bậc với kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2007 đạt 2,364 tỷ USD, tăng 22,8% so với năm 2006. Trong cơ cấu thương mại quốc tế, Nhật Bản luôn giữ vị trí là một trong ba thị trường xuất khẩu trọng điểm của sản phẩm gỗ Việt Nam bên cạnh Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU). Với quy mô dân số gần 128,5 triệu người, GDP bình quân đầu người đạt 35.757 USD/năm và nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ hàng năm lên tới khoảng 5,2 tỷ USD, thị trường Nhật Bản mở ra dư địa thương mại vô cùng to lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Mức chi tiêu trung bình cho đồ gỗ nội thất tại các hộ gia đình Nhật Bản đạt xấp xỉ 1.000 USD/tháng, thể hiện sức mua rất cao của nền kinh tế phát triển này.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong năm 2007 chỉ đạt 6,7% với giá trị 300,6 triệu USD, chiếm vỏn vẹn khoảng 7,3% thị phần nhập khẩu của Nhật Bản. Mức tăng trưởng này thấp hơn đáng kể so với tốc độ bứt phá sang thị trường Hoa Kỳ (tăng 27,42%) hay thị trường Anh (tăng 44,81%). Ngành gỗ xuất khẩu sang Nhật Bản đang phải đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng: phụ thuộc tới 80% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, năng lực chế biến công nghệ cao còn hạn chế, hệ thống logistics nội địa yếu kém và tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 - 2009.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích toàn diện thực trạng thương mại gỗ giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhận diện các điểm nghẽn nội tại của doanh nghiệp, đánh giá các nhân tố môi trường vĩ mô và vi mô tác động đến ngành. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng hệ thống chiến lược phát triển thị trường, cải tiến sản phẩm và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy mạnh mẽ kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản, hướng tới mục tiêu đạt 700 triệu USD vào năm 2010 với nhóm đồ gỗ nội thất đóng góp khoảng 550 triệu USD (tốc độ tăng trưởng bình quân 28%/năm). Phạm vi không gian của đề tài tập trung khảo sát tại hai cụm sản xuất - chế biến gỗ lớn nhất cả nước là cụm Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai và cụm Bình Định - Tây Nguyên trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại của Fred R. David và lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter để phân tích toàn diện hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Quá trình hoạch định chiến lược được triển khai thông qua quy trình ba giai đoạn: thiết lập chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá chiến lược. Nghiên cứu tập trung làm rõ các khái niệm cốt lõi bao gồm chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm và chiến lược liên doanh liên kết trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Hệ thống công cụ quản trị chiến lược định lượng và định tính được ứng dụng đồng bộ để xử lý dữ liệu nghiên cứu:

  • Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE): Tổng hợp và đánh giá mức độ phản ứng của ngành gỗ trước các cơ hội và nguy cơ từ môi trường kinh tế, văn hóa, công nghệ, pháp lý và thị trường Nhật Bản.
  • Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE): Phân tích điểm mạnh, điểm yếu nội tại của doanh nghiệp về năng lực tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ chế biến và hệ thống kênh phân phối.
  • Ma trận hình ảnh cạnh tranh (CPM): So sánh tương quan vị thế cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam với các đối thủ trực tiếp như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Malaysia trên thị trường Nhật Bản.
  • Ma trận SWOT và Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM): Kết hợp các yếu tố môi trường để xây dựng và lựa chọn khách quan chiến lược tối ưu có tính khả thi cao nhất cho doanh nghiệp Việt Nam.

Khung lý thuyết cũng tích hợp các quy chuẩn thương mại và định chế kỹ thuật quốc tế như chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm (CoC), chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC), cùng hệ thống luật pháp khắt khe của Nhật Bản gồm Luật Tiêu chuẩn hóa và dán nhãn nông lâm sản (JAS), Luật Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) và Luật An toàn sản phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp với độ tin cậy cao:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám Thống kê Việt Nam, báo cáo chuyên ngành của Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), Tổng cục Hải quan, cơ quan xúc tiến thương mại JETRO (Nhật Bản) và tạp chí Japan Lumber Journal trong giai đoạn 2004 - 2008.
  • Dữ liệu sơ cấp và chọn mẫu: Tác giả tiến hành khảo sát thực tế trên cỡ mẫu 141 doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gỗ tại hai vùng kinh tế trọng điểm (chiếm hơn 70% năng lực sản xuất của cả nước). Phương pháp lấy mẫu kết hợp giữa chọn mẫu thuận tiện và phân tầng theo quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc lựa chọn cỡ mẫu 141 doanh nghiệp đảm bảo tính đại diện cao cho bức tranh toàn cảnh của ngành gỗ xuất khẩu sang Nhật Bản.

Phương pháp phân tích số liệu sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê mô tả, phân tích tỷ trọng, phân tích tương quan và tính toán điểm số trọng số trong các ma trận EFE, IFE, CPM và QSPM. Việc lựa chọn các phương pháp phân tích này giúp lượng hóa các nhận định định tính, tạo cơ sở khách quan và khoa học để đề xuất các phương án chiến lược sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực chứng tại 141 doanh nghiệp chế biến gỗ và phân tích chuỗi dữ liệu xuất khẩu đã chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, kim ngạch xuất khẩu gỗ sang thị trường Nhật Bản tăng trưởng liên tục nhưng chưa tương xứng với tiềm năng. Năm 2006 đạt 281,7 triệu USD, năm 2007 đạt 300,6 triệu USD (tăng 6,7%) và 10 tháng đầu năm 2008 đạt 297,5 triệu USD (tăng 14,5%), chiếm 12,99% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ cả nước. Nhóm hàng đồ nội thất (mã HS 9403) như tủ bếp, bàn ghế, tủ phòng khách chiếm tỷ trọng áp đảo từ 72% đến 82% tổng giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản. Đơn giá xuất khẩu FOB trung bình đạt mức cạnh tranh: bàn trang điểm đạt 125 USD/chiếc, tủ quần áo đạt 101 USD/chiếc, tủ đầu giường đạt 55,62 USD/chiếc.

Thứ hai, hình thức xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào trung gian. Kết quả khảo sát cho thấy 60,3% doanh nghiệp (85/141 doanh nghiệp) đã xuất khẩu trực tiếp sang Nhật Bản, trong khi 39,7% doanh nghiệp (56/141 doanh nghiệp) vẫn phải xuất khẩu gián tiếp qua các đối tác trung gian tại Đài Loan, Hàn Quốc hoặc Singapore. Phần lớn doanh nghiệp hoạt động theo phương thức gia công OEM dựa trên thiết kế của khách hàng Nhật, thiếu hẳn thương hiệu độc lập trên thị trường quốc tế.

Thứ ba, sự đứt gãy và yếu kém của chuỗi cung ứng nguyên liệu và dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp trong nước phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu gỗ (trên 2 triệu m3/năm với trị giá hơn 1 tỷ USD), khiến chi phí nguyên liệu chiếm đến 37% giá thành sản phẩm. Về dịch vụ hậu cần logistics, có tới 64,5% doanh nghiệp (91/141 doanh nghiệp) đánh giá hệ thống logistics cần phải cải tiến khẩn cấp, 28,4% đánh giá tạm được và chỉ có 7,1% đánh giá ở mức tốt. Bất cập lớn nằm ở việc quy định tải trọng đường bộ tại các tỉnh phía Nam chỉ cho phép xe chở dưới 25 tấn, trong khi các container gỗ nguyên liệu nhập khẩu về cảng thường có trọng lượng trên 30 tấn, buộc doanh nghiệp phải sang tải chia nhỏ chuyến, làm đội chi phí vận chuyển lên rất cao.

Thứ tư, rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng chỉ xuất xứ gỗ nghiêm ngặt. Thị trường Nhật Bản kiểm soát tuyệt đối nồng độ Formaldehyde theo luật JAS/JIS và cấm hoàn toàn chất Chlorpyrifos từ ngày 1/7/2003 nhằm ngăn chặn hội chứng nhà bệnh tật. Ngoài ra, việc tuân thủ nhãn an toàn hàng hóa SG gắn liền với trách nhiệm bồi thường lên tới 100 triệu Yên cho mỗi vụ việc thương tích. Tuy nhiên, tính đến năm 2008, toàn ngành chỉ có 155 doanh nghiệp đạt chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm CoC và khoảng 55% sản phẩm gỗ xuất khẩu có chứng nhận nguồn gốc hợp pháp.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh rõ nét khoảng cách năng lực cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam và các đối thủ lớn như Trung Quốc và Đài Loan tại thị trường Nhật Bản. Doanh nghiệp Trung Quốc vượt trội nhờ áp dụng công nghệ máy móc hiện đại nhập khẩu từ chính Nhật Bản và Đức, kết hợp linh hoạt vật liệu gỗ với vải bọc nệm và kim loại inox, đồng thời duy trì hệ thống phân phối trực tiếp và liên kết chặt chẽ với các hiệp hội gỗ Nhật Bản cũng như tổ chức JETRO.

Trong khi đó, đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu vốn, quy mô sản xuất phân tán, máy móc lạc hậu và chịu tác động kép từ lãi suất biến động mạnh cùng chính sách thuế xuất khẩu 10% đối với sản phẩm ván sàn (theo văn bản số 11270/BTC-CST ngày 23/9/2008). Tuy vậy, ngành gỗ Việt Nam vẫn có những mô hình thành công tiêu biểu như Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành nhờ chiến lược tự chủ 40.000 ha rừng nguyên liệu đạt chứng chỉ FSC, hiện đại hóa nhà máy tại Bình Dương và huy động vốn hiệu quả qua thị trường chứng khoán niêm yết.

Các dữ liệu phân tích này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giữa các thị trường Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, kết hợp bảng ma trận EFE và IFE nhằm làm nổi bật các điểm nghẽn chiến lược mà doanh nghiệp cần ưu tiên xử lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ kết quả phân tích ma trận SWOT và QSPM, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi với mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu gỗ sang Nhật Bản lên 700 triệu USD giai đoạn 2010 - 2015:

Thứ nhất, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và chủ động nguồn nguyên liệu nội địa:

  • Hành động: Quy hoạch phát triển vùng rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn tập trung gắn liền với nhà máy chế biến; đẩy mạnh cấp chứng chỉ FSC cho rừng trồng; hợp tác đầu tư liên doanh trồng rừng tại các quốc gia láng giềng như Lào và Campuchia.
  • Target metric: Nâng tỷ lệ tự chủ nguồn nguyên liệu gỗ nội địa từ 20% lên trên 40% vào năm 2015; đạt 100% nguyên liệu chế biến có nguồn gốc hợp pháp.
  • Timeline: Giai đoạn 2009 - 2015.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng nguyên liệu, Hiệp hội Vifores và các doanh nghiệp chế biến gỗ.

Thứ hai, đổi mới công nghệ chế biến và đa dạng hóa sản phẩm:

  • Hành động: Đầu tư chuyển giao máy móc công nghệ tiên tiến từ Nhật Bản, Đức và Ý; cải tiến thiết kế nội thất kết hợp vật liệu đay, cói, mây tre và kim loại; chuẩn hóa quy trình xử lý keo dán nhằm triệt tiêu phát thải Formaldehyde và Chlorpyrifos theo đúng tiêu chuẩn JAS, JIS và BSL; tối ưu hóa kích thước sản phẩm phù hợp với không gian căn hộ đô thị nhỏ hẹp tại Nhật.
  • Target metric: Giảm tỷ lệ tiêu hao nguyên liệu từ 5% đến 10%, tăng tỷ trọng đồ gỗ tinh chế có giá trị gia tăng cao lên trên 85%.
  • Timeline: Thực hiện liên tục từ năm 2009.
  • Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến đồ gỗ xuất khẩu.

Thứ ba, tháo gỡ khó khăn về vốn và hoàn thiện cơ sở hạ tầng logistics:

  • Hành động: Thực hiện linh hoạt các chính sách hỗ trợ tín dụng theo Quyết định số 2809/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước để hạ lãi suất cho vay cơ bản về mức 8,5%/năm; mở rộng cơ chế cho vay ngoại tệ trung và dài hạn cho doanh nghiệp xuất khẩu; nâng cấp hệ thống cầu đường, quy hoạch đồng bộ kho bãi tập kết gỗ và điều chỉnh linh hoạt hạn mức tải trọng vận tải đường bộ lên trên 30 tấn tại các trung tâm chế biến phía Nam.
  • Target metric: Giảm chi phí logistics xuất nhập khẩu từ 15% đến 20%, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa xuống dưới 48 giờ.
  • Timeline: Giai đoạn 2009 - 2012.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải và các hiệp hội vận tải logistics.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu quốc tế:

  • Hành động: Tăng cường liên kết với Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), Hội Phát triển Quốc tế về Công nghiệp Đồ gỗ Nhật Bản và Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản; tổ chức thường niên các đoàn khảo sát thị trường; tham gia bài bản vào các kỳ hội chợ chuyên ngành lớn như Hội chợ EXPO Đồ gỗ Thành phố Hồ Chí Minh và Triển lãm Nội thất Quốc tế Tokyo; đẩy mạnh chuyển đổi từ kênh gia công sang bán hàng trực tiếp đến các chuỗi bán lẻ lớn tại Nhật Bản.
  • Target metric: Tăng tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp lên trên 80%; 100% doanh nghiệp lớn xây dựng bộ nhận diện thương hiệu riêng và đạt chứng chỉ chuỗi hành trình CoC.
  • Timeline: Giai đoạn 2009 - 2013.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Công thương, Cục Xúc tiến Thương mại, Hiệp hội Vifores và các doanh nghiệp xuất khẩu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ: Luận văn cung cấp cẩm nang chi tiết về thị hiếu tiêu dùng của người Nhật, các quy định kỹ thuật bắt buộc theo luật JAS/JIS/BSL, khung hướng dẫn tính toán đơn giá FOB cạnh tranh và kinh nghiệm xây dựng thương hiệu trực tiếp giúp tối ưu hóa biên lợi nhuận.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Giao thông Vận tải: Nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn để rà soát chiến lược phát triển ngành gỗ quốc gia, hoạch định vùng nguyên liệu tập trung đạt chuẩn FSC, hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu và nâng cấp hạ tầng logistics phục vụ xuất khẩu.

Thứ ba, các hiệp hội ngành nghề như Vifores, HAWA, BIFA: Tài liệu hỗ trợ các hiệp hội trong việc điều phối liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiết lập các kênh kết nối thương mại với tổ chức JETRO và đại diện thương mại Nhật Bản nhằm bảo vệ quyền lợi hội viên và hạn chế cạnh tranh hạ giá nội bộ.

Thứ tư, các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên sau đại học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại và Quản trị kinh doanh: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp luận ứng dụng các ma trận chiến lược EFE, IFE, CPM, SWOT và QSPM trong nghiên cứu thị trường xuất khẩu cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp gỗ Việt Nam cần đáp ứng những rào cản kỹ thuật bắt buộc nào khi thâm nhập thị trường Nhật Bản? Doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Tiêu chuẩn nông lâm sản (JAS) và Luật Tiêu chuẩn công nghiệp (JIS) về giới hạn phát thải Formaldehyde, đồng thời bị cấm tuyệt đối sử dụng hóa chất bảo quản Chlorpyrifos từ ngày 1/7/2003. Với đồ gỗ trẻ em và giường tủ, hàng hóa phải đạt nhãn an toàn SG, nếu xảy ra lỗi kỹ thuật gây thương tích thì mức bồi thường quy định lên tới 100 triệu Yên/người.

Tại sao ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam lại thiếu hụt nguồn nguyên liệu trầm trọng? Nguồn gỗ rừng tự nhiên trong nước bị giới hạn khai thác nghiêm ngặt (năm 2006 chỉ khai thác 230.000 m3 từ 3,11 triệu ha rừng tự nhiên). Rừng trồng sản xuất khoảng hơn 2 triệu ha nhưng phân tán, năng suất thấp và phân bố xa nhà máy chế biến. Do đó, các doanh nghiệp phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu gỗ (hơn 2 triệu m3/năm với trị giá trên 1 tỷ USD), dẫn đến giá thành sản phẩm chịu rủi ro cao từ biến động cước vận tải thế giới.

Tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp của đồ gỗ Việt Nam sang Nhật Bản thể hiện thực trạng gì? Khảo sát thực tế trên 141 doanh nghiệp cho thấy 60,3% xuất khẩu trực tiếp và 39,7% xuất khẩu gián tiếp qua các trung gian tại Hàn Quốc, Đài Loan hoặc Singapore. Tỷ lệ xuất khẩu gián tiếp gần 40% phản ánh năng lực marketing quốc tế, thương hiệu riêng và khả năng đàm phán hợp đồng trực tiếp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn nhiều hạn chế, làm giảm đáng kể giá trị thặng dư thu về.

Doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi những bài học chiến lược nào từ các công ty xuất khẩu gỗ Trung Quốc? Doanh nghiệp Trung Quốc rất chủ động xây dựng thương hiệu riêng, xuất khẩu trực tiếp không qua trung gian và đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ máy móc chuyển giao từ Nhật Bản, Đức. Họ khéo léo kết hợp gỗ với kim loại inox, vải nệm nỉ để tiết kiệm nguyên liệu, tối ưu hóa kích thước nhỏ gọn cho thị trường Nhật và liên kết chặt chẽ với tổ chức JETRO cùng các hiệp hội đồ gỗ Nhật Bản để liên tục cập nhật thị hiếu tiêu dùng.

Điểm nghẽn lớn nhất trong hệ thống logistics của ngành gỗ Việt Nam hiện nay là gì? Hạ tầng kho bãi chứa gỗ cồng kềnh còn thiếu và yếu, đi kèm bất cập về giới hạn tải trọng đường bộ tại các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam (chỉ cho phép xe dưới 25 tấn). Trong khi đó, các container nguyên liệu gỗ nhập khẩu thường nặng trên 30 tấn, buộc doanh nghiệp phải hạ tải, chia nhỏ nhiều chuyến vận chuyển về nhà máy, làm chi phí logistics tăng vọt và 64,5% doanh nghiệp được khảo sát yêu cầu phải cải tiến khẩn cấp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện bức tranh xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Nhật Bản giai đoạn 2004 - 2008, chỉ ra tiềm năng to lớn từ thị trường có nhu cầu nhập khẩu 5,2 tỷ USD/năm nhưng thị phần của Việt Nam mới đạt khoảng 7,3%.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn then chốt của ngành: phụ thuộc 80% nguyên liệu nhập khẩu, 64,5% doanh nghiệp gặp khó khăn về logistics, thiếu vốn đầu tư công nghệ và gần 40% vẫn phải xuất khẩu gián tiếp.
  • Phân tích sâu sắc các rào cản kỹ thuật khắt khe của Nhật Bản gồm luật JAS, JIS, tiêu chuẩn an toàn SG và xu hướng tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm gỗ kết hợp đa vật liệu có thiết kế tinh gọn.
  • Vận dụng khoa học hệ thống ma trận chiến lược EFE, IFE, CPM, SWOT và QSPM để lựa chọn chiến lược phát triển thị trường và sản phẩm tối ưu cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đồng bộ, mang tính hành động cao giữa 4 chủ thể: Chính phủ, các bộ ngành liên quan, hiệp hội Vifores và cộng đồng doanh nghiệp chế biến gỗ.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã cung cấp một khung phân tích chiến lược thực chứng, gắn kết lý luận quản trị với số liệu khảo sát thực tế tại 141 doanh nghiệp, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về thị trường đồ gỗ Nhật Bản trong bối cảnh Việt Nam hội nhập WTO. Về định hướng tiếp theo, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần khẩn trương hiện thực hóa quy hoạch chuỗi cung ứng nguyên liệu đạt chứng chỉ FSC và nâng cấp hạ tầng logistics chuyên dụng trong giai đoạn 2009 - 2015. Các nhà quản trị và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác sâu các bảng số liệu thống kê và bộ ma trận đánh giá trong luận văn để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn quản trị xuất khẩu.