Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Giới thiệu tổng quan lý thuyết. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày lý thuyết về FDI bao gồm lý thuyết về lợi thế độc quyền, lý thuyết về thương mại quốc tế, lý thuyết về dòng đời sản phẩm, lý thuyết chiết trung và lý thuyết về chi phí giao dịch. Sau đó, tác giả trình bày về tác động của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế của quốc gia nhận tiếp nhận đầu tư cũng như thảo luận các yếu tố thu hút dòng vốn FDI.
Tiếp theo, tác giả trình bày lý thuyết về tác động của tham nhũng đối với nền kinh tế và xã hội. Sau cùng là phần thảo luận về tác động của tham nhũng lên dòng vốn FDI thông qua hai lý thuyết “Grabbing hand” và “Helping hand”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 3: Trình bày về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Đầu tiên, tác giả mô tả nguồn dữ liệu nghiên cứu, đưa ra cách thức để đo lường dòng vốn FDI và tham nhũng.
Sau đó, tác giả nêu ra căn cứ lựa chọn các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, phân tích ưu điểm và nhược điểm của dữ liệu bảng, tiến hành ước lượng mô hình OLS, FEM và REM. Cuối cùng, phương pháp System GMM được sử dụng để khắc phục hiện tượng nội sinh còn tồn tại trong mô hình. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm những nội dung như thống kê mô tả các biến, ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình, các kiểm định về hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai phần dư thay đổi và tương quan chuỗi trong mô hình.
Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày kết quả ước lượng mô hình OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nghiên (REM) và mô hình System GMM. Chương 5: Trình bày kết luận của đề tài nghiên cứu. Đồng thời, tác giả nêu ra những mặt hạn chế của đề tài, các khuyến nghị về chính sách cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Bài nghiên cứu đóng góp bằng chứng thực nghiệm về tác động của tham nhũng lên dòng vốn FDI tại các quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Châu Á và Châu Phi trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2014. Đồng thời, đưa ra những gợi ý về chính sách phòng, chống tham nhũng để có thu hút dòng vốn FDI hiệu quả hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Trong chương hai, bài nghiên cứu giới thiệu tổng quan lý thuyết.
Đầu tiên, tác giả giới thiệu lý thuyết về FDI gồm lý thuyết về lợi thế độc quyền, lý thuyết về thương mại quốc tế, lý thuyết về dòng đời sản phẩm, lý thuyết chiết trung và lý thuyết về chi phí giao dịch; tác động của dòng vốn FDI đến nền kinh tế và các yếu tố tác động lên dòng vốn FDI. Tiếp theo là phần trình bày lý thuyết về tham nhũng; tác động của tham nhũng đến nền kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến tham nhũng. Cuối cùng là phần thảo luận về tác động của tham nhũng lên dòng vốn FDI trong hai lý thuyết “grabbing hand” và “helping hand”.1 Khái niệm về FDI Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước đi đầu tư) có tài sản ở một số nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Khía cạnh quản lý là yếu tố để phân biệt FDI với các nguồn vốn và công cụ tài chính khác.
Nhà đầu tư còn được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty. Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) cho rằng FDI là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó nhà đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprises) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải đạt được 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Hiệp Hội Thương mại và Phát Triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) cho rằng nguồn vốn FDI bao gồm ba thành phần chủ yếu là cổ phần, thu nhập tái đầu tư và khoản vay trong nội bộ doanh nghiệp.
Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam quy định hình thức thể hiện của FDI là doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh, đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO và BT, hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trực tiếp và chủ đầu tư là cá nhân hay tổ chức của một quốc gia đưa vốn là tiền hay tài sản cố định như máy móc, trang thiết bị công nghệ hiện đại và nhiều khoản đầu tư khác đầu tư tại một quốc gia nào đó. Đồng thời, các nhà đầu tư sẽ nắm giữ quyền sở hữu, quản lý và kiểm soát hoạt động đầu tư tại quốc gia tiếp nhận đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.2 Các hình thức của FDI 2.1 Phân chia theo mục đích đầu tư của FDI Đầu tư mới (Greenfield investment) là hình thức chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống và thường nhắm đến các quốc gia đang phát triển.
Mua lại và sáp nhập (Merger and Acquisition) là hình thức công ty đa quốc gia đầu tư vốn, mua luôn tài sản của doanh nghiệp nước ngoài. Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal FDI) là hình thức đầu tư của các công ty đa quốc gia, trong đó các doanh nghiệp này thực hiện các hoạt động sản xuất hay cung cấp dịch vụ giống nhau ở những khu vực khác nhau. Đầu tư theo chiều dọc (Vertical FDI) là hình thức mà công ty đa quốc gia chia nhỏ chuỗi giá trị của họ thành những công đoạn sản xuất, cung cấp dịch vụ riêng biệt và lựa chọn những khu vực khác nhau để thực hiện một hoặc một số mắt xích trong chuỗi giá trị đó.2 Phân chia theo mục tiêu đầu tư của FDI FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực (Resource-seeking) là hình thức đầu tư nhằm đạt được dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động giá rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên mà những nguồn lực này không có ở quốc gia đi đầu tư. Đối tượng hướng vào là các nước đang phát triển sở hữu nguồn tài nguyên phong phú như tài nguyên dầu mỏ ở khu vực Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động giá rẻ ở khu vực Đông Nam Á.
FDI tìm kiếm thị trường (Market-Seeking) là hình thức đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới hoặc duy trì thị trường hiện có. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 FDI tìm kiếm sự hiệu quả (Effficiency-Seeking) là hình thức đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi hoặc là cả hai yếu tố trên. FDI tìm kiếm tài sản chiến lược (Strategic Asset-Seeking) là hình thức đầu tư nhằm ngăn chặn việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, các công ty sản xuất và khai thác dầu mỏ có thể không cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn phải tìm cách bảo vệ nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.3 Lý thuyết về vị trí của dòng vốn đầu tư FDI 2.1 Lý thuyết về lợi thế độc quyền (Monopolistic Advantages Theory) Lý thuyết này được đưa ra bởi Hymer (1960), ông cho rằng FDI xảy ra khi công ty có lợi thế độc quyền so với các đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm này phát từ những quốc gia công nghiệp. Họ cho rằng các quốc gia muốn vượt rào cản quốc tế thì phải có lợi thế độc quyền. Khi thực hiện đầu tư, MNEs sẽ gặp nhiều bất lợi như thiếu thông tin về môi trường kinh doanh, khoảng cách về vị trí địa lý làm tăng chi phí vận chuyển, xây dựng mối quan hệ với khách hàng và nhà cung ứng cũng tốn nhiều chi phí hơn so với doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, lợi thế độc quyền cho phép MNEs tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài vì nó làm giảm chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với doanh nghiệp nội địa.
Lợi thế độc quyền có thể là bí quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế được bảo hộ, thương hiệu và nhiều vấn đề khác.2 Lý thuyết về thương mại quốc tế (International trade theory) Heckscher – Ohlin là cha đẻ của mô hình thương mại quốc tế. Theo ông, một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong sản xuất, sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia sở hữu yếu tố đó tương đối dồi dào và nhập khẩu yếu tố mà quốc gia đó tương đối khan hiếm. Quốc gia phát triển có nguồn vốn dồi dào sẽ xuất khẩu vốn sang các quốc gia thiếu hụt nguồn vốn một cách tương đối. Đây là cơ sở giải thích cho sự chuyển dịch nguồn vốn giữa các quốc gia đặc biệt là từ những nước phát triển sang nước đang phát triển.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm (International product life cycle) Raymond Vernon (1966) đã đưa ra lý thuyết về vòng đời sản phẩm vào những năm 60 của thế kỷ trước. Những sản phẩm mới của thế giới ( xe hơi, máy tính, điện thoại và còn nhiều sản phẩm khác) hầu như đều được sản xuất và tiêu thụ tại thị trường Hoa Kỳ, sau đó mới được tiêu thụ tại thị trường các quốc gia phát triển khác và sau cùng là các nước đang phát triển. Theo thời gian, sẽ có làn sóng đầu tư nước ngoài chảy vào các quốc gia theo xu hướng từ các nước phát triển chảy vào các nước đang phát triển, gắn với chu kỳ sản phẩm đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, nhiều nhận định cho rằng mô hình của Vernon còn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Đó là không giải thích được hiện tượng chuỗi giá trị toàn cầu của các sản phẩm. Các sản phẩm mới được sản xuất ở các nước trên thế giới có nguồn gốc từ quốc gia đang phát triển.