Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2006 - 2011, ngành du lịch tỉnh Bình Định đã ghi nhận những bước chuyển mình đáng kể khi lượng khách du lịch tăng trưởng bình quân 23%/năm, mở rộng từ 560.000 lượt khách vào năm 2007 lên 1.180.500 lượt khách vào cuối năm 2011. Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động du lịch của tỉnh vào năm 2011 chỉ đạt 363 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng doanh thu hơn 6.800 tỷ đồng của toàn vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Thị phần khách quốc tế đến Bình Định chỉ đạt 35.138 lượt khách, tương đương xấp xỉ 3% dung lượng toàn vùng, phản ánh khoảng cách phát triển rất lớn khi đặt cạnh các trung tâm lân cận như Khánh Hòa với doanh thu hơn 1.700 tỷ đồng hay Bình Thuận đạt trên 3.000 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi đặt ra là sự thiếu hụt các nguồn lực tài chính để hiện đại hóa cơ sở hạ tầng du lịch, nâng cấp sản phẩm dịch vụ và định vị thương hiệu địa phương. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư du lịch, đánh giá thực trạng thu hút vốn giai đoạn 2006 - 2011 và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn đầu tư trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh Bình Định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp các luận cứ vững chắc để địa phương tối ưu hóa chính sách ưu đãi, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), phấn đấu nâng tỷ trọng đóng góp của GDP du lịch vào tổng sản phẩm địa phương từ mức dưới 5% lên trên 10% vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế học đầu tư của John M. Keynes kết hợp cùng mô hình tăng trưởng kinh tế Harrod - Domar nhằm phân tích vai trò động lực của nguồn vốn đầu tư đối với quá trình mở rộng sản lượng và gia tăng năng suất ngành du lịch thông qua hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR). Song song đó, nghiên cứu dựa trên lý thuyết cung du lịch của Giáo sư Hunziker và Krapf để phân định rõ hai nhóm điều kiện then chốt: điều kiện phát triển du lịch chung gắn với sự ổn định kinh tế - chính trị vĩ mô và điều kiện đặc trưng gắn với tài nguyên tự nhiên, nhân văn cùng năng lực sẵn sàng phục vụ du khách của địa phương.

Mô hình đối tác công tư (Public-Private Partnership - PPP) với các hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT được đưa vào khung phân tích như một công cụ tài chính then chốt nhằm huy động nguồn vốn tư nhân tham gia phát triển hạ tầng du lịch công cộng. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Nguồn vốn đầu tư trong nước, Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Suất sinh lợi của dự án đầu tư du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2006 - 2011 được thu thập chính thức từ Cục Thống kê tỉnh Bình Định, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh Bình Định cùng các báo cáo chuyên ngành của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế với cỡ mẫu gồm 110 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, dịch vụ lưu trú và lữ hành trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc được áp dụng để đo lường mức độ quan trọng của các nhân tố tác động đến quyết định rót vốn của nhà đầu tư. Tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia trong ngành du lịch. Lý do lựa chọn kết hợp các phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều; vừa lượng hóa được biến động của dòng vốn vĩ mô, vừa nhận diện sâu sắc những rào cản vi mô mà các số liệu thống kê đơn thuần chưa thể phản ánh đầy đủ. Timeline nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng chu kỳ 2006 - 2011 và dự báo các chỉ tiêu nhu cầu vốn cho giai đoạn 2012 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho hạ tầng du lịch tỉnh Bình Định còn rất khiêm tốn, chỉ đạt mức chi bình quân ước tính trên 80 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2006 - 2011. Mức vốn này chưa đủ sức tạo đòn bẩy đột phá để nâng cấp hệ thống giao thông kết nối 134 km bờ biển cùng 231 điểm di tích lịch sử - văn hóa toàn tỉnh.

Thứ hai, cơ cấu cơ sở lưu trú có sự gia tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng chuyển biến chậm. Tổng số cơ sở lưu trú tăng 96,4% từ 56 cơ sở (1.150 phòng) năm 2006 lên 110 cơ sở (2.647 phòng) năm 2011 với công suất sử dụng phòng bình quân đạt 78%/năm. Mặc dù có 68 cơ sở được xếp hạng sao, nhưng phân khúc cao cấp chỉ có 4 khách sạn đạt chuẩn 4 sao và 1 khách sạn đạt chuẩn 3 sao, còn lại 92,6% số cơ sở có sao thuộc phân khúc 1 - 2 sao, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng không gian lưu trú cho phân khúc khách chi tiêu cao.

Thứ ba, thị phần thu hút khách quốc tế và dòng vốn FDI vào ngành du lịch Bình Định đạt mức rất thấp so với tiềm năng vùng. Năm 2011, tỉnh chỉ đón 35.138 lượt khách quốc tế, trong khi tỉnh Quảng Nam dẫn đầu vùng với hơn 1.000.000 lượt khách (chiếm 50% toàn vùng) và thành phố Đà Nẵng duy trì tốc độ tăng trưởng khách quốc tế bình quân 41,83%/năm.

Thứ tư, kết quả khảo sát 110 doanh nghiệp chỉ ra rằng ba nhân tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư du lịch tại Bình Định lần lượt là: Sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng giao thông - kỹ thuật, tính minh bạch và đơn giản của thủ tục hành chính, cùng các chính sách ưu đãi tiếp cận quỹ đất sạch.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch sâu sắc về doanh thu du lịch giữa Bình Định (363 tỷ đồng) với Khánh Hòa (hơn 1.700 tỷ đồng) và Bình Thuận (trên 3.000 tỷ đồng) trong năm 2011 phản ánh thực trạng các dự án du lịch tại Bình Định còn triển khai rời rạc, thiếu các tổ hợp vui chơi - giải trí - nghỉ dưỡng quy mô lớn đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt thị trường. Hoạt động đầu tư trong giai đoạn vừa qua phần lớn mang tính tự phát của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa tạo dựng được chuỗi liên kết giá trị hoàn chỉnh giữa du lịch biển đảo với du lịch văn hóa - lịch sử.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ hệ thống số liệu nghiên cứu có thể được thể hiện thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan dòng vốn đầu tư và doanh thu du lịch giữa Bình Định với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, kết hợp bảng cơ cấu phân hạng khách sạn giai đoạn 2006 - 2011 và biểu đồ mạng nhện đánh giá tác động của 10 chỉ số thành phần PCI đến dòng vốn đầu tư.

Ý nghĩa kinh tế của các phát hiện khẳng định rằng tiềm năng tài nguyên của Bình Định với 33 hòn đảo lớn nhỏ, cảnh quan Bán đảo Phương Mai, thắng cảnh Hầm Hô, suối nước nóng Hội Vân (nhiệt độ 78 - 84 độ C) cùng hệ thống tháp Chăm Dương Long hoàn toàn đủ năng lực cạnh tranh sòng phẳng với các trung tâm du lịch hàng đầu nếu nút thắt về vốn đầu tư hạ tầng khung được khơi thông kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, huy động vốn phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông và dịch vụ du lịch thông qua mô hình hợp tác công tư (PPP). UBND tỉnh Bình Định cần chủ trì phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải áp dụng linh hoạt các hợp đồng BOT, BT để thu hút các tập đoàn tư nhân xây dựng tuyến đường ven biển kết nối Quy Nhơn - Phù Cát, nâng cấp cảng biển du lịch và mở rộng sân bay Phù Cát. Mục tiêu huy động vốn ngoài ngân sách đạt tối thiểu 3.500 tỷ đồng giai đoạn 2012 - 2015 và 8.000 tỷ đồng giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ hai, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh phối hợp với Sở Nội vụ triển khai mô hình một cửa liên thông hiện đại, công khai quy hoạch sử dụng đất và rút ngắn 30% thời gian thẩm định, cấp phép cho các dự án đầu tư du lịch. Mục tiêu đưa chỉ số PCI của tỉnh Bình Định vươn lên nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước trước năm 2015.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế và hỗ trợ tín dụng đầu tư. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh phối hợp cùng Cục Thuế Bình Định và hệ thống 21 chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn xây dựng các gói tín dụng trung và dài hạn ưu đãi lãi suất, đồng thời chuẩn bị sẵn quỹ đất sạch khoảng 500 ha tại Khu kinh tế Nhơn Hội và dải ven biển Quy Nhơn - Sông Cầu để đón đầu các dự án du lịch nghỉ dưỡng cao cấp từ năm 2013 đến năm 2016.

Thứ tư, đổi mới chiến lược quảng bá, xúc tiến đầu tư và liên kết phát triển du lịch liên vùng. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định chủ trì tăng ngân sách xúc tiến du lịch từ mức dưới 2 tỷ đồng/năm lên tối thiểu 10 tỷ đồng/năm vào năm 2015; đồng thời chủ động liên kết tour tuyến với Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa và khu vực Tây Nguyên nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng lượt khách quốc tế trên 25%/năm trong giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh bao gồm Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bình Định. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và khung phân tích chuyên sâu giúp các đơn vị này rà soát quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, xây dựng danh mục dự án trọng điểm kêu gọi vốn FDI và hoàn thiện các chính sách ưu đãi tài chính địa phương.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh du lịch, lữ hành và các nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng trong nước và quốc tế. Doanh nghiệp có thể sử dụng bức tranh phân tích thị trường, cơ cấu lưu trú và tiềm năng địa bàn (như Phương Mai, Ghềnh Ráng, Tây Sơn) để định hình chiến lược phân bổ nguồn vốn, xác định phân khúc khách hàng mục tiêu và xây dựng các dự án đầu tư có tỷ suất sinh lời tối ưu.

Nhóm các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư tài chính. Nghiên cứu mang lại cái nhìn toàn diện về thực trạng tài chính của ngành du lịch Bình Định, giúp các nhà quản trị rủi ro tín dụng đánh giá chính xác tính khả thi của các dự án xây dựng hạ tầng, khu nghỉ dưỡng tiêu chuẩn từ 3 đến 5 sao để đưa ra quyết định giải ngân an toàn.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thị trường, kỹ thuật khảo sát doanh nghiệp và phương thức ứng dụng các mô hình tài chính như PPP, Harrod - Domar vào phân tích kinh tế ngành thực chứng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỉnh Bình Định sở hữu tài nguyên du lịch phong phú nhưng doanh thu du lịch giai đoạn 2006 - 2011 vẫn đạt mức khiêm tốn? Năm 2011, doanh thu du lịch của tỉnh chỉ đạt 363 tỷ đồng, thấp hơn rất nhiều so với Bình Thuận (trên 3.000 tỷ đồng). Nguyên nhân chính là do vốn ngân sách đầu tư hạ tầng chỉ khoảng 80 tỷ đồng/năm, thiếu các khu nghỉ dưỡng cao cấp chuẩn 4 - 5 sao và sản phẩm dịch vụ ban đêm còn nghèo nàn, khiến thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân của du khách ở mức thấp.

Mô hình đối tác công tư (PPP) mang lại giải pháp gì cho bài toán hạ tầng du lịch tại Bình Định? Mô hình PPP thông qua các hợp đồng BOT, BT giúp giải tỏa áp lực cho ngân sách nhà nước bằng cách tận dụng nguồn vốn tư nhân để xây dựng hệ thống đường giao thông kết nối 134 km bờ biển, bến thuyền du lịch và cấp thoát nước. Cách làm này vừa rút ngắn thời gian thi công, vừa bảo đảm chất lượng công trình phục vụ du lịch.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tác động như thế nào đến tâm lý của các nhà đầu tư du lịch? Khảo sát 110 doanh nghiệp du lịch tại Bình Định cho thấy tính minh bạch thông tin quy hoạch, chi phí không chính thức và thời gian giải quyết thủ tục đất đai là các chỉ số thành phần PCI có ảnh hưởng trực tiếp nhất. Môi trường PCI thông thoáng giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạ thấp chi phí cơ hội và đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.

Nguồn vốn nào giữ vai trò then chốt trong định hướng phát triển du lịch Bình Định đến năm 2020? Luận văn khẳng định vốn ngân sách nhà nước chỉ đóng vai trò "vốn mồi" định hướng hạ tầng ban đầu. Nguồn vốn giữ vai trò quyết định tạo nên bước nhảy vọt cho du lịch Bình Định đến năm 2020 chính là nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp tư nhân trong nước kết hợp với dòng vốn FDI chất lượng cao rót vào các tổ hợp nghỉ dưỡng giải trí quy mô lớn.

Những điểm đến tự nhiên nào tại Bình Định có tiềm năng hấp dẫn dòng vốn đầu tư lớn nhất? Bán đảo Phương Mai với diện tích hơn 300 ha gắn liền đầm Thị Nại, thắng cảnh Ghềnh Ráng, cụm 33 đảo ven biển và suối nước nóng Hội Vân (nhiệt độ 78 - 84 độ C) là những tọa độ sở hữu giá trị cảnh quan vượt trội, rất thích hợp để các nhà đầu tư phát triển các mô hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển và du lịch chữa bệnh cao cấp.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về kinh tế đầu tư du lịch, khẳng định tính tất yếu của việc khơi thông đa dạng các nguồn vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương bền vững.
  • Đánh giá khách quan thực trạng du lịch Bình Định giai đoạn 2006 - 2011 với mức tăng trưởng lượng khách đạt 23%/năm nhưng doanh thu chỉ chiếm xấp xỉ 363 tỷ đồng do sự thiếu vắng các dự án đầu tư tầm cỡ.
  • Nhận diện chính xác ba rào cản cốt lõi kìm hãm dòng vốn đầu tư gồm: Hạ tầng giao thông kết nối chưa đồng bộ, cơ sở lưu trú cao cấp 4 - 5 sao còn quá ít và chỉ số PCI chưa thực sự bứt phá.
  • Đề xuất hệ sinh thái 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, trọng tâm là áp dụng mô hình đối tác công tư (PPP), cải cách hành chính một cửa và hoàn thiện chính sách ưu đãi đất đai, tín dụng.
  • Phân kỳ lộ trình thực hiện khoa học qua hai giai đoạn 2012 - 2015 và 2016 - 2020 nhằm bảo đảm tính khả thi cho mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Bình Định.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết kinh tế tài chính với bài toán thực tiễn tại địa phương, đưa ra dự báo nhu cầu vốn sát với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch Bình Định cất cánh vào năm 2020, các cấp chính quyền tỉnh cùng cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các giải pháp huy động vốn và cải thiện môi trường đầu tư một cách quyết liệt, đồng bộ.