Tổng quan nghiên cứu

Năm 2013, ngành cao su thiên nhiên Việt Nam ghi nhận dấu mốc lịch sử khi sản lượng khai thác chính thức vượt mốc 1,043 triệu tấn, tăng trưởng 20,8% so với năm 2012 và vươn lên vị trí thứ ba thế giới về sản lượng, thứ tư về kim ngạch xuất khẩu toàn cầu với thị phần ước tính 10,3%. Tính đến cuối năm 2012, diện tích trồng cao su cả nước đã đạt 910.500 ha, vượt kế hoạch 800.000 ha được Chính phủ đề ra đến năm 2015 theo Quyết định số 750/QĐ-TTg và Quyết định số 124/QĐ-TTg. Mặc dù đạt được quy mô sản xuất vượt bậc và năng suất bình quân cao hàng đầu khu vực với 1,71 tấn/ha, ngành xuất khẩu cao su Việt Nam lại đối mặt với chu kỳ suy giảm sâu về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân lao dốc từ mức đỉnh 3.980 USD/tấn năm 2011 xuống chỉ còn quanh mốc 2.300 USD/tấn vào cuối năm 2013 và đầu năm 2014 do ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế thế giới và tình trạng dư cung toàn cầu.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phát triển thiếu cân đối giữa sản lượng và chất lượng, đi kèm mức độ phụ thuộc nghiêm trọng vào thị trường Trung Quốc khi quốc gia này tiêu thụ tới 47,1% tổng sản lượng xuất khẩu (đạt 507.415 tấn năm 2013). Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh doanh thương mại của tác giả Võ Phan Trúc Phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Võ Thanh Thu tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH, 2014), tập trung giải quyết yêu cầu cấp bách về việc làm rõ các nhân tố tác động, phân tích toàn diện thực trạng giai đoạn 2000-2013 và xây dựng hệ thống giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cao su thiên nhiên Việt Nam giai đoạn 2014-2020. Nghiên cứu thực hiện khảo sát trọng điểm trên địa bàn Đông Nam Bộ (chiếm 47% diện tích cả nước) và Tây Nguyên (chiếm 28% diện tích), mang lại giá trị thực tiễn quan trọng trong việc định hình lại cơ cấu sản phẩm, nâng cao giá trị thặng dư thương mại và ổn định sinh kế cho hơn 500.000 lao động ngành cao su.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp đa chiều giữa các lý thuyết thương mại quốc tế kinh điển và các mô hình quản trị chiến lược hiện đại. Cơ sở nền tảng xuất phát từ Lý thuyết Lợi thế so sánh hiện hữu (Revealed Comparative Advantage - RCA) do Bela Balassa thiết lập năm 1965, nhằm lượng hóa mức độ vượt trội về chuyên môn hóa xuất khẩu của một ngành hàng thông qua tỷ trọng kim ngạch quốc gia so với tỷ trọng toàn cầu. Để đo lường sức cạnh tranh trên từng thị trường trọng điểm, tác giả áp dụng Chỉ số Chuyên môn hóa xuất khẩu (Export Specialization Index - ESI), cho phép xác định chính xác năng lực thâm nhập của cao su Việt Nam tại Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) của Barney cùng các phát triển thực nghiệm của Theingi và Sharon (2010), khẳng định lợi thế bền vững của doanh nghiệp xuất khẩu hình thành từ tài sản hữu hình, năng lực tài chính, công nghệ chế biến và trình độ nhân lực. Vận dụng khung phân tích hiệu quả xuất khẩu của Piercy và cộng sự (1998) kết hợp mô hình của Sirisuwat và Jindabot (2012), đề tài thiết lập mô hình nghiên cứu gồm 5 nhóm nhân tố then chốt tác động trực tiếp đến khả năng đẩy mạnh xuất khẩu:

  • Tính cạnh tranh (năng lực chuỗi cung ứng, giá cả, chất lượng);
  • Các nguồn lực sẵn có (quy mô đồn điền, công nghệ, tài chính);
  • Mối quan hệ mua - bán (uy tín thương mại, mạng lưới trung gian);
  • Chiến lược marketing xuất khẩu (chính sách giá, xúc tiến, phân phối theo chuẩn Incoterms);
  • Sự hỗ trợ của Chính phủ (thủ tục hành chính, tín dụng, hiệp định thương mại tự do).

Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm: Đẩy mạnh xuất khẩu (gia tăng đồng thời quy mô, tốc độ và giá trị thặng dư), Cao su tiêu chuẩn kỹ thuật (Vietnam Standard Rubber - SVR với các cấp độ 3L, 10, 20) và Mủ tờ xông khói (Ribbed Smoked Sheet - RSS).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định tính và xử lý dữ liệu định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện theo chuỗi thời gian 2000-2013 từ các tổ chức uy tín quốc tế và trong nước: Tổ chức Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG), Hiệp hội Các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC), Tổng cục Thống kê (GSO), Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) và Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA).

Về nghiên cứu định lượng sơ cấp, tác giả tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi cấu trúc với thang đo Likert 5 điểm. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 150 nhà quản lý và chuyên gia tại các doanh nghiệp xuất khẩu cao su thuộc khối quốc doanh (VRG), doanh nghiệp tư nhân và các công ty thương mại trung gian. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện được triển khai tại địa bàn Đông Nam Bộ (Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai) và Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và Hồi quy tuyến tính bội. Phương pháp này được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác trọng số tác động của từng nhân tố nội tại và ngoại cảnh, khắc phục hạn chế thuần mô tả của các nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống so sánh quốc tế để đúc kết bài học thực tiễn từ Thái Lan (quỹ tái canh ORRAF), Malaysia (công nghệ giống i-Klon và chế biến sâu) và Ấn Độ (mô hình khuyến nông tiểu điền hiệu quả).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng mang tính cốt lõi về bức tranh xuất khẩu cao su thiên nhiên Việt Nam:

Thứ nhất, nghịch lý tăng trưởng giữa sản lượng và kim ngạch xuất khẩu. Trong giai đoạn 2003-2013, sản lượng xuất khẩu tăng trưởng bình quân 9,0%/năm, tăng từ 433.100 tấn năm 2003 lên 1.076.600 tấn năm 2013 (tăng 148,6%). Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu có sự biến động dữ dội: sau khi đạt đỉnh 3,23 tỷ USD năm 2011, kim ngạch giảm mạnh 12,9% xuống còn khoảng 2,5 tỷ USD năm 2013 do giá xuất khẩu thế giới giảm sâu hơn 40% so với thời kỳ đỉnh cao.

Thứ hai, sự lệch pha nghiêm trọng trong cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu. Năm 2013, chủng loại SVR 3L chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 43,9% tổng khối lượng xuất khẩu (đạt 472.298 tấn, tăng 17,6% so với 2012), trong khi SVR 10 chiếm 24,2% (243.692 tấn). Ngược lại, chủng loại SVR 20 - mặt hàng được ngành sản xuất lốp xe toàn cầu (chiếm 70% tổng cầu cao su thế giới) tiêu thụ nhiều nhất - lại chỉ chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 1,4% (đạt 14.889 tấn). Chủng loại mủ tờ cao cấp RSS 3 chỉ chiếm 1,4% và mủ kem Latex chiếm 4,7%.

Thứ ba, rủi ro tập trung thị trường ở mức báo động. Việt Nam xuất khẩu sang hơn 72 quốc gia nhưng 20 thị trường hàng đầu đã chiếm tới 97,6% thị phần. Trung Quốc duy trì vị thế áp đảo tuyệt đối với 47,1% thị phần (507.415 tấn), theo sau là Malaysia chiếm 20,8% (223.571 tấn, tăng 11,6%) và Ấn Độ chiếm 8,0% (86.393 tấn, tăng trưởng ấn tượng 20,5%). Việc quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc qua đường tiểu ngạch biên mậu khiến doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên bị ép giá khi quốc gia này tăng tồn kho.

Thứ tư, năng suất khai thác vượt trội nhưng cấu trúc đồn điền tiềm ẩn bất ổn. Năng suất vườn cây Việt Nam đạt 1,71 tấn/ha năm 2012, đứng thứ 2 thế giới sau Ấn Độ (1,82 tấn/ha) và cao hơn mức trung bình thế giới (1,1 tấn/ha). Về cơ cấu sở hữu, khu vực tiểu điền chiếm 49,28% diện tích, đại điền quốc doanh chiếm 44,36% và tư nhân chiếm 6,36%. Sự bùng nổ tự phát của cao su tiểu điền dẫn đến tình trạng thiếu kiểm soát chất lượng mủ nguyên liệu.

Thảo luận kết quả

Phân tích định lượng khẳng định Tính cạnh tranh về chất lượng và Chiến lược marketing xuất khẩu là hai biến số có hệ số tác động chuẩn hóa lớn nhất đến hiệu quả xuất khẩu. Nguyên nhân chính khiến giá cao su Việt Nam luôn thấp hơn giá sàn giao dịch quốc tế (TOCOM, SICOM) từ 100-200 USD/tấn xuất phát từ việc quy trình sơ chế tại các cơ sở tiểu điền còn thô sơ, hàm lượng tạp chất cao và không đồng nhất. Các dữ liệu này hoàn toàn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân tán giữa giá bán và tỷ lệ tạp chất, cũng như bảng so sánh chỉ số RCA của Việt Nam (luôn duy trì > 1) với Thái Lan và Indonesia.

So sánh với các nghiên cứu của Huỳnh Văn Sáu (2008) và Văn Thị Tường Vy (2010), kết quả của luận văn đã bổ sung minh chứng thực nghiệm về sự dịch chuyển trong chuỗi giá trị: Việt Nam chủ yếu xuất thô SVR 3L sang Malaysia để nước này tinh chế thành sản phẩm giá trị gia tăng cao rồi tái xuất sang châu Âu và Hoa Kỳ. Về phương thức giao hàng, thống kê Hải quan 4 tháng đầu năm 2014 cho thấy hợp đồng xuất khẩu tập trung vào điều kiện FOB (chiếm 68.918 tấn) và FCA (19.412 tấn), trong khi điều kiện CIF chỉ đạt 32.247 tấn. Điều này phản ánh doanh nghiệp Việt Nam chịu thiệt thòi lớn khi nhượng lại toàn bộ quyền kiểm soát logistics quốc tế và bảo hiểm hàng hóa cho đối tác nước ngoài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm và bối cảnh cung cầu quốc tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cao su giai đoạn 2014-2020:

  • Tái cơ cấu chủng loại sản phẩm chế biến: Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất từ mủ SVR 3L sang SVR 10, SVR 20 và RSS 3 nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu của các tập đoàn lốp xe toàn cầu như Bridgestone, Michelin. Đặt mục tiêu nâng tỷ trọng SVR 10 và SVR 20 lên mức 35-40% tổng sản lượng xuất khẩu vào năm 2020, đồng thời giảm tỷ trọng SVR 3L xuống dưới 35%. Chủ thể thực hiện: Tập đoàn VRG và các nhà máy chế biến tư nhân.
  • Đa dạng hóa thị trường và chuyển đổi phương thức thương mại: Giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc từ 47,1% xuống dưới 40% giai đoạn 2015-2020; tập trung mở rộng thị phần tại Ấn Độ (mục tiêu tăng trưởng 20%/năm), Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU). Chuyển dịch từ hình thức xuất khẩu tiểu ngạch biên giới sang ký kết hợp đồng ngoại thương chính ngạch theo điều kiện CIF/FCA để nâng cao biên lợi nhuận thêm 3-5%. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội VRA phối hợp cùng các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.
  • Nâng cấp chuỗi liên kết giá trị và kiểm soát chất lượng tiểu điền: Thành lập các hợp tác xã liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và hộ cao su tiểu điền (chiếm 49,28% diện tích). Áp dụng hệ thống chứng nhận xuất xứ (C/O) và tiêu chuẩn chất lượng TCVN/ISO thống nhất, ứng dụng công nghệ kiểm định giống i-Klon và truy xuất nguồn gốc mủ nguyên liệu. Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Ủy ban Nhân dân các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Gia Lai.
  • Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng và xúc tiến thương mại quốc tế: Thiết lập quỹ bình ổn giá và triển khai gói tín dụng ưu đãi lãi suất dài hạn hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới dây chuyền công nghệ chế biến mủ ly tâm và cao su blend; miễn giảm thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng cao su tinh chế sâu. Chủ thể thực hiện: Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công Thương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Ban lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu cao su: Nắm bắt cơ cấu cung cầu thế giới, xây dựng chiến lược định giá linh hoạt theo sàn TOCOM/SICOM, đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế và tái cấu trúc danh mục sản phẩm từ SVR 3L sang SVR 10/20.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT): Sử dụng nguồn dữ liệu thực chứng để điều chỉnh quy hoạch diện tích cao su quốc gia ổn định quanh mốc 800.000 - 1.000.000 ha, xây dựng hàng rào kỹ thuật kiểm soát xuất khẩu tiểu ngạch và thiết kế các hiệp định thương mại song phương.
  • Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và các tổ chức xúc tiến thương mại: Ứng dụng mô hình liên kết để xây dựng thương hiệu quốc gia "Cao su Việt Nam", tổ chức mạng lưới cung cấp thông tin thị trường định kỳ và kết nối đối tác trực tiếp tại thị trường Ấn Độ, EU và Hoa Kỳ.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế thương mại: Tham khảo phương pháp luận khoa học, cách tính toán chỉ số RCA, ESI và quy trình ứng dụng mô hình EFA trong việc giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh ngành nông sản xuất khẩu chủ lực.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao giá cao su xuất khẩu của Việt Nam lại giảm sâu trong giai đoạn 2012-2013 dù sản lượng liên tục lập đỉnh?

Nguyên nhân chủ yếu do độ trễ của khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến nhu cầu sản xuất ô tô và lốp xe suy giảm mạnh, trong khi nguồn cung cao su thế giới dư thừa từ diện tích trồng mới giai đoạn 2003-2008. Giá xuất khẩu bình quân của Việt Nam giảm từ 3.980 USD/tấn (2011) xuống khoảng 2.300 USD/tấn (2013).

2. Sự bất cập lớn nhất trong cơ cấu chủng loại cao su xuất khẩu của Việt Nam là gì?

Việt Nam tập trung sản xuất chủng loại SVR 3L chiếm tới 43,9% (472.298 tấn năm 2013), trong khi các hãng sản xuất lốp xe hàng đầu thế giới (tiêu thụ 70% tổng cầu cao su) lại cần chủng loại SVR 10, SVR 20 và RSS. Chủng loại SVR 20 của Việt Nam chỉ chiếm vỏn vẹn 1,4% sản lượng xuất khẩu.

3. Vị thế cạnh tranh của cao su thiên nhiên Việt Nam trên thị trường quốc tế được thể hiện qua các chỉ số nào?

Việt Nam luôn duy trì chỉ số Lợi thế so sánh hiện hữu RCA > 1 suốt giai đoạn 2004-2013, đứng thứ 3 thế giới về sản lượng (1,043 triệu tấn) và thứ 2 thế giới về năng suất khai thác (1,71 tấn/ha), vượt trội hơn Thái Lan (1,68 tấn/ha) và Malaysia (1,46 tấn/ha).

4. Việt Nam có thể học hỏi bài học gì từ mô hình phát triển cao su của Thái Lan và Ấn Độ?

Việt Nam có thể học tập Thái Lan trong việc lập Quỹ hỗ trợ tái canh cao su (ORRAF tài trợ 5 triệu Baht nhằm thay thế vườn cây già cỗi) và học tập Ấn Độ ở cơ chế quản lý tập trung qua Ủy hội Cao su trực thuộc Bộ Thương mại để hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp cho 88,4% diện tích tiểu điền.

5. Doanh nghiệp cao su Việt Nam cần thay đổi điều kiện giao hàng như thế nào để gia tăng lợi nhuận?

Doanh nghiệp cần giảm tỷ trọng bán hàng theo điều kiện FOB (chiếm trên 68.000 tấn trong 4 tháng đầu năm 2014) và chuyển dần sang giao hàng theo điều kiện CIF hoặc FCA tại kho đến, giúp chủ động kiểm soát chi phí logistics và nâng cao giá trị gia tăng trên mỗi tấn hàng xuất khẩu.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp hệ thống số liệu toàn diện giai đoạn 2000-2013, phản ánh chân thực vị thế cường quốc sản xuất cao su thứ ba thế giới của Việt Nam với sản lượng 1,043 triệu tấn và năng suất 1,71 tấn/ha.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn chiến lược: cơ cấu xuất khẩu phụ thuộc 43,9% vào mủ SVR 3L và 47,1% vào thị trường Trung Quốc, khiến toàn ngành chịu tổn thương lớn khi giá cả biến động.
  • Kiểm định thành công mô hình 5 nhân tố tác động đến khả năng đẩy mạnh xuất khẩu bằng công cụ phân tích định lượng EFA trên mẫu khảo sát thực tế tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp khả thi giai đoạn 2014-2020: nâng tỷ trọng cao su SVR 10/20 lên trên 35%, mở rộng thị trường Ấn Độ và EU, chuẩn hóa chất lượng cho 49,28% diện tích tiểu điền.
  • Đây là tài liệu tham khảo thiết thực dành cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm đến chiến lược nâng tầm vị thế nông sản Việt Nam trên thương trường quốc tế.