phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: 3 Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý chất lƣợng lƣơng thực dự trữ quốc gia Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý chất lƣợng lƣơng thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lƣợng lƣơng thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG LƢƠNG THỰC DỰ TRỮ QUỐC GIA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài - “Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia” (2012) của Lê Văn Dƣơng - Luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn này nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về các mặt hàng dự trữ quốc gia trong đó có mặt hàng lƣơng thực, nêu ra những bất cập và biện pháp hoàn thiện trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với các mặt hàng này.
- “Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam” (2014) của Trần Quốc Thao, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn hệ thống hoá cơ sở lý luận của sự hình thành DTQG, cơ chế quản lý nhà nƣớc về DTQG; xác định những nội dung cơ bản của DTQG trong cơ chế thị trƣờng, những nhân tố cơ bản ảnh hƣởng đến hoạt động DTQG, cơ chế quản lý nhà nƣớc về DTQG. Phân tích toàn diện cơ chế quản lý nhà nƣớc về DTQG, chỉ rõ những ƣu điểm, nhƣợc điểm và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nƣớc đối với DTQG. Đề xuất một số quan điểm, phƣơng hƣớng, giải pháp và điều kiện để góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nƣớc về DTQG ở Việt Nam.
-“Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước”(2013) của Lê Bá Thanh - Luận văn thạc sĩ, trƣờng Đại học kinh tế quốc dân. Luận văn này hệ thống hóa những vấn đề lý liên quan đến đề tài phân tích, thực trạng công tác xây dựng kế hoạch của Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc, từ đó đƣa ra những khó khăn, vƣớng mắc, đề xuất biện pháp hoàn thiện về công tác xây dựng kế hoạch của Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc. - “Quản lý cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” (2015) của Nguyễn Thị Mai Hƣờng - Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm 5 thực tiễn về quản lý hoạt động cứu trợ lƣơng thực từ nguồn DTQG; phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động cứu trợ lƣơng thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc; Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lƣơng thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc.
- “Nghiên cứu xác định chất lượng thóc bảo quản trong điều kiện áp suất thấp, năm 2013” (2014) của Thạc sỹ Đinh Thu Huyền, đề tài khoa học cấp cơ sở tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc. Đề tài tập trung nghiên cứu và đánh giá một số chỉ tiêu chất lƣợng của thóc bảo quản trong kho dự trữ quốc gia. Từ đó đề xuất thời gian lƣu kho an toàn, làm cơ sở để xác định các chỉ tiêu chất lƣợng đầu ra của thóc dự trữ quốc gia nhằm năng cao chất lƣợng thóc dự trữ, đáp ứng mục tiêu của dự trữ lƣơng thực nhà nƣớc mang lại hiêu quả kinh tế cao. - “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia tại Cục Dự trữ nhà nước khu vực Nghệ Tĩnh” (2014) của Nguyễn Thị Phố Giang, đề tài khoa học cơ sở tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc.
Đề tài xác định những nội dung cơ bản trong công tác quản lý chất lƣợng hàng hóa tại phạm vi là Cục Dự trữ Nhà nƣớc khu vực Nghệ Tĩnh; đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lƣợng hàng dự trữ quốc gia, từ đó, chỉ ra ƣu, nhƣợc điểm của công tác quản lý chất lƣợng. Đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lƣợng hàng dự trữ quốc gia tại đơn vị. - “Nghiên cứu đánh giá sự phù hợp và hiệu quả kinh tế của công nghệ bảo quản thóc dự trữ quốc gia do Trung Quốc chuyển giao”(2017) của Thạc sỹ Phan Anh Tuấn, Đề tài khoa học cấp cơ sở tại Tổng cục Dự trữ Nhà nƣớc. Đề tài đánh giá tính phù hợp công nghệ và hiệu quả kinh tế của công nghệ bảo quản của Trung Quốc đối với lƣơng thực nhằm áp dụng trong điều kiện thực tế của Việt Nam, từ đó đƣa các khuyến cáo làm cơ sở triển khai rộng rãi trong ngành dự trữ.
Các công trình ở trên đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý đối với DTQG nói chung và về công tác quản lý chất lƣợng hàng DTQG nói riêng, trong đó có lƣơng thực. Các công trình nghiên cứu nói trên là tài liệu quý báu để tác giả có thể tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình. 6 Tuy nhiên, cho tới nay, chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề quản lý chất lƣợng lƣơng thực DTQG, do vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý chất lượng lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” để thực hiện Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế, chƣơng trình định hƣớng ứng dụng. Cơ sở lý luận về quản lý chất lƣợng lƣơng thực dự trữ quốc gia 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Dự trữ quốc gia * Dự trữ Trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng nhƣ trong đời sống kinh tế - xã hội, con ngƣời thƣờng xuyên chịu ảnh hƣởng, tác động của môi trƣờng thiên nhiên. Cho dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu, ở bất cứ trình độ tiên tiến nào; công tác phòng ngừa, bảo vệ có kỹ lƣỡng đến đâu thì con ngƣời vẫn có nguy cơ phải đối mặt với những hiểm họa, rủi ro do thiên nhiên gây ra. Trƣớc những hiểm họa, những lý do bất khả kháng đòi hỏi con ngƣời phải tự tìm kiếm giải pháp để phòng ngừa, hạn chế, khắc phục những biến cố bất ngờ do thiên nhiên gây ra.
Đó chính là cội nguồn của ý tƣởng về dự trữ. Theo từ điển Tiếng Việt: Dự trữ là trữ sẵn để dùng khi cần đến. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Dự trữ là toàn bộ những nguồn vốn hay giá trị mà một chủ thể kinh tế hay Nhà nƣớc dành ra dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ để phòng ngừa và khắc phục có hiệu quả các tổn thất do tai biến bất ngờ gây ra đối với sản xuất, đời sống hoặc để đảm bảo cho sự liên tục không bị gián đoạn trong sản xuất, kinh doanh. * Dự trữ quốc gia: Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nƣớc) là dự trữ của một đất nƣớc - một quốc gia mà bất cứ một quốc gia nào cũng phải có.
Tuy nhiên, dự trữ quốc gia là gì? Cũng có những khái niệm khác nhau: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Dự trữ quốc gia là dự trữ của một nƣớc do nhà nƣớc nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các loại vật tƣ - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian nhất định. Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nƣớc”. 7 Giáo trình kinh tế thƣơng mại, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân thì cho rằng: Dự trữ quốc gia (DTQG) là một dạng dự trữ đặc biệt của hàng hoá. Dự trữ này do Nhà nƣớc quy định bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân khi có thiên tai, chiến tranh và có sự biến động của thị trƣờng.
Giáo trình về quản lý kinh tế của khoa Quản lý kinh tế- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Quỹ DTQG là một phần của cải vật chất của Nhà nƣớc đƣợc tích lũy thành lực lƣợng dự phòng chiến lƣợc để sử dụng vào mục đích phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, phục vụ an ninh quốc phòng và thực hiện các nhiệm vụ khác của Chính phủ” mà “ hàng hoá đƣa vào quỹ dự trữ Quốc gia là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống và an ninh quốc phòng”. Theo Pháp lệnh Dự trữ quốc gia năm 2004, “Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lƣợc của Nhà nƣớc nhằm chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tham gia bình ổn thị trƣờng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của Nhà nƣớc”. Theo Luật Dự trữ quốc gia năm 2013, “Dự trữ quốc gia là dự trữ vật tƣ, thiết bị, hàng hóa do Nhà nƣớc quản lý, nắm giữ” với mục tiêu “chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh”. Từ những quan niệm trên đây, có thể rút ra khái niệm: Dự trữ quốc gia là nguồn lực dự trữ do Nhà nƣớc tạo lập, quản lý để phân phối sử dụng cho những mục tiêu chiến lƣợc và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đột xuất, cấp bách xảy ra.
Dự trữ quốc gia vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc, vừa là nguồn lực tài chính, tài sản công để sẵn sàng, chủ động đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; đảm bảo quốc phòng, an ninh và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác theo sự điều hành của Chính phủ.