phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu & Cơ sở lý luận về quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo hệ CĐ Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Công nghệ và Thƣơng mại Hà Nội. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Công nghệ và Thƣơng mại Hà Nội. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU & CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QL CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ ĐÀO TẠO CỦA HỆ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo đối với hệ cao đẳng, đại học là yếu tố sống còn với tính hiệu quả trong công tác đào tạo. Thực tiễn đã cho thấy, không một cơ sở đào tạo nào thành công nếu công tác quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo yếu kém, lỏng lẻo.
Sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, hiệu quả trong tất cả các khâu thuộc lĩnh vực quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo nhƣ lập kế hoạch và tổ chức thực hiện quản lý hoạch định, chỉ đạo và thúc đẩy bộ máy hoạt động cũng nhƣ hoàn thiện công tác thanh kiểm tra, giám sát chất lƣợng dịch vụ đào tạo là nhân tố quyết định đến thành công của các hệ thống trƣờng đào tạo. Trên thế giới 100% trƣờng đại học, cao đẳng thành công đều do họ đã nhìn nhận đúng đắn vai trò của QLCL dịch vụ đào tạo và có hƣớng đi nhất quán. Đào tạo đƣợc nhận định nhƣ một ngành dịch vụ và ngƣời học cần phải đóng học phí để có đƣợc những kiến thức cần thiết. Tại Việt Nam, những năm gần đây do sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc đã không còn trực tiếp điều chỉnh, quản lý các trƣờng đại học, cao đẳng mà để các trƣợng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự hoạch định sự phát triển, quy mô đào tạo và các ngành nghề mà xã hội cần.
Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều trƣờng cao đẳng hay đại học chƣa áp dụng mô hình quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo một cách hiệu quả mà chỉ dựa trên kinh nghiệm để quản lý. Bởi vậy cũng có nhiều tác giả quan tâm và chú trọng nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. 5 Khi tìm hiểu về đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Xuân – Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lƣợng dịch vụ giáo dục của trƣờng đại học Trà Vinh. Tác giả đi sâu vào thang đánh giá kiểm định chất lƣợng dịch vụ đào tạo, từ đó đƣa ra thang điểm tƣơng ứng với mức độ hài lòng của sinh viên.
Nghiên cứu đã thành công khi tìm ra đƣợc mối tƣơng quan mật thiết giữa sự hài lòng của sinh viên với các thành tố nhƣ tiếp cận dịch vụ giáo dục, cơ sở vật chất, môi trƣờng giáo dục, hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục. Tuy nhiên do phạm trù nghiên cứu nặng về thang đo chấm điểm nên giải pháp đƣa ra chƣa đƣợc cụ thể, chƣa bám sát thực tế. Phạm Văn Quyết của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội- Những trăn trở cho đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, việc đổi mới giáo dục đại học là điều cần thiết. Ông cũng đồng ý với quan điểm các trƣờng đại học ở Việt Nam cần giống nhƣ các trƣờng đại học quốc tế coi ngành giáo dục nhƣ ngành dịch vụ, trong đó cần tập trung vào chất lƣợng dịch vụ đào tạo.
Với việc khắc phục những bất cập sẽ tạo ra bƣớc chuyển biến rõ rệt: a) Chất lƣợng giáo dục nói chung còn thấp, một mặt chƣa tiếp cận đƣợc với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chƣa đáp ứng với ngành nghề trong xã hội b) Hiệu quả họat động giáo dục chƣa cao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, còn nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chƣa có việc làm c) Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã đƣợc khắc phục một bƣớc song vẫn còn mất cân đối d) Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lƣợng và nhìn chung thấp về chất lƣợng e) Cơ sở vật chất của nhà trƣờng còn thiếu thốn. 6 f) Chƣơng trình, giáo trình, phƣơng pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa g) Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả Tuy nhiên, tác giả lại đi sâu vào phân tích 2 vấn đề cơ bản: thứ nhất liên quan quan tới đƣờng lối và cơ chế quản lý giáo dục đại học; thứ hai liên quan tới mối quan hệ giữa số lƣợng và chất lƣợng của giáo dục đại học. Từ góc độ này, đề tài vận dụng cho chủ thể quản lý định hƣớng cho cơ sở đào tạo đƣờng lối bám sát cơ chế.
Tính cân bằng giữa số lƣợng và chất lƣợng cũng là yếu tố đƣợc xem trọng. Nhìn chung các đề tài nghiên cứu của các chuyên gia đều trình bày lý thuyết chung về quản lý chất lƣợng giáo dục, đƣa ra một số giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục. Chƣa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích khía cạnh nội dung quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo cũng nhƣ chƣa có nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo tại trƣờng cao đẳng Công nghiệp và Thƣơng mại Hà Nội. Hơn nữa, trƣờng cao đẳng Công nghiệp và Thƣơng mại Hà Nội cũng là trƣờng cao đẳng đƣợc xếp vào loại nhỏ.
Vậy nên đề tài này có ý nghĩa thiết thực đối với các trƣờng cao đẳng công nghệ và thƣơng mại Hà Nội nói riêng và trƣờng cao đẳng, đại học tại Việt Nam nói chung. Luận văn định hƣớng nghiên cứu tổng quan đối với vấn đề quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo tại trƣờng cao đẳng Công nghệ và Thƣơng mại Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tại trƣờng, thúc đẩy sự phát triển bền vững tại đây.2 Chất lƣợng dịch vụ đào tạo & quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo CĐ 1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ đào tạo, quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo 7 1.1 Khái niệm dịch vụ đào tạo Khái niệm dịch vụ đào tạo có nghĩa rộng (bao quát chung) và nghĩa hẹp (các dịch vụ cụ thể). Nghĩa rộng là, coi toàn bộ hoạt động giáo dục và đào tạo thuộc khu vực dịch vụ (trong tƣơng quan với hai khu vực khác là công nghiệp và nông nghiệp). Trong Hiệp định chung về Thƣơng mại Dịch vụ (GATS - General Agreement on Trade in Services) mà Việt Nam đã ký kết khi tham gia vào Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) cũng đã xếp giáo dục và đào tạo vào lĩnh vực dịch vụ.
Nghĩa hẹp của khái niệm dịch vụ đào tạo gắn với các hoạt động đào tạo cụ thể. Quá trình đào tạo đƣợc thực hiện với sự tham gia của rất nhiều các yếu tố, quá trình khác nhau, có thể là vật chất (nhƣ cơ sở vật chất, trang thiết bị,.), có thể là phi vật chất (nhƣ quá trình truyền thụ tri thức, giảng dạy trực tiếp,.), có thể là chứa đựng cả hai yếu tố vật chất và phi vật chất (nhƣ nội dung chƣơng trình, sách giáo khoa cho giáo dục và đào tạo,. Các yếu tố, quá trình đào tạo phi vật thể đƣợc gọi là dịch vụ thuần; các sản phẩm là hàng hóa vật thể gọi là hàng hóa thuần; còn các sản phẩm chứa đựng cả yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất đƣợc gọi chung là hàng hóa dịch vụ không thuần. Vì vậy, trong giáo dục và đào tạo có rất nhiều các loại dịch vụ cụ thể phục vụ cho nhà trƣờng, phục vụ cho ngƣời dạy, phục vụ cho ngƣời học, phục vụ cho quá trình giáo dục và đào tạo.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ đào tạo Có thể hiểu chất lƣợng dịch vụ đào tạo bao gồm chất lƣợng các loại dịch vụ cụ thể phục vụ cho nhà trƣờng, phục vụ cho ngƣời dạy, phục vụ cho ngƣời học, phục vụ cho quá trình giáo dục và đào tạo và chất lƣợng đào tạo.
Khách hàng của đào tạo trong nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần ở nƣớc ta gồm: Nhà nƣớc, trung ƣơng và địa phƣơng, các doanh nghiệp, các công ty nội địa và nƣớc ngoài, hộ gia đình, ngƣời học, v., do vậy, chất 8 lƣợng đào tạo cần đáp ứng đƣợc nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau trong những điều kiện phát triển kinh tế xã hội nhất định. Chất lượng dịch vụ đào tạo chính là trình độ của sản phẩm đào tạo hay nhân cách mà người học đạt được sau khi kết thúc khoá đào tạo so với các chuẩn đề ra ở mục tiêu đào tạo. Tuy nhiên, mục tiêu đào tạo phải đƣợc xây dựng theo các chuẩn nghề nghiệp/dịch vụ để đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách hàng. Do vậy, ngày nay ở nhiều nƣớc, các Doanh nghiệp đã tham gia vào việc xác định mục tiêu đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp để đào tạo đƣợc gắn với yêu cầu của khách hàng, với nhu cầu của thị trƣờng lao động trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia.3 Khái niệm quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo: Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con ngƣời.
Muốn cho một quá trình, một hệ thống tồn tại và phát triển hƣớng tới mục tiêu đã xác định, cần phải áp dụng nhiều biện pháp, trong đó quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng. Karl Marx đã khẳng định “một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng” [30] Quản lý là một quá trình con ngƣời tổ chức điều khiển các sự vật, hiện tƣợng theo một quy luật nhất định Trong Từ Điển có viết: “quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [43] Quản lý chất lƣợng dịch vụ đào tạo là một nội dung quan trọng, đảm bảo cho quá trình giáo dục đào tạo của nhà trƣờng đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo và nhu cầu đòi hỏi của ngƣời học cũng nhƣ xã hội.