Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005 chứng kiến bước chuyển mình mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam với tốc độ tăng trưởng lượng khách quốc tế bình quân đạt trên 26,5% mỗi năm. Lượng khách quốc tế đã tăng từ 250.000 lượt vào năm 1990 lên hơn 3.478.000 lượt vào năm 2005, mang lại doanh thu xấp xỉ 30.000 tỷ đồng cho nền kinh tế quốc dân. Dù sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú với 3.260 km bờ biển, hơn 40.000 di tích lịch sử và 2 di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, ngành du lịch nước ta vẫn bộc lộ nhiều hạn chế lớn về chất lượng dịch vụ, kết cấu hạ tầng và năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Theo Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu năm 2005 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam xếp vị trí thứ 81 trên tổng số 117 nền kinh tế, tụt 4 bậc so với năm 2004 và nằm ở nhóm áp chót trong khu vực Đông Nam Á. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để chuyển đổi từ lợi thế so sánh tài nguyên sẵn có sang năng lực cạnh tranh động trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Mục tiêu cụ thể của luận văn là khái quát hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh điểm đến, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam giai đoạn 1993 - 2005 trong mối tương quan với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Singapore, và đúc kết bài học từ Tây Ban Nha. Từ đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2006 - 2010 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng đến mục tiêu đón trên 5,5 triệu lượt khách quốc tế và nâng tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào GDP lên mức trên 6,5% trong những năm tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng dựa trên lý thuyết giá trị thặng dư và phân công lao động xã hội của Karl Marx, kết hợp với lý thuyết bàn tay vô hình và cơ chế điều tiết thị trường của Adam Smith. Đặc biệt, nghiên cứu kế thừa sâu sắc mô hình Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990) nhằm phân định rõ sự khác biệt giữa lợi thế so sánh tĩnh dựa trên tài nguyên giá rẻ và lợi thế cạnh tranh động dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và sự can thiệp chiến lược của Nhà nước.

Trong kinh tế học du lịch, công trình vận dụng mô hình Năng lực cạnh tranh điểm đến do Crouch và Ritchie (1999) khởi xướng, kết hợp nghiên cứu mở rộng của Dwyer, Forsyth và Rao (2000). Khung lý thuyết này phân tích năng lực cạnh tranh dựa trên 5 trụ cột then chốt: điều kiện thực tế của điểm đến, nguồn lực thừa hưởng tự nhiên và nhân văn, nguồn lực sáng tạo từ hạ tầng dịch vụ, quản lý điểm đến và điều kiện cầu thị trường.

Các khái niệm chính được làm sáng tỏ gồm: năng lực cạnh tranh điểm đến, khả năng co giãn của cầu du lịch theo giá và chất lượng, năng lực cạnh tranh động gắn với công nghệ, và 8 nhóm chỉ số đánh giá của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) bao gồm chỉ số giá khách sạn - sức mua tương đương (PPP), chỉ số phát triển hạ tầng, chỉ số môi trường, chỉ số công nghệ, chỉ số giáo dục nguồn nhân lực, chỉ số mở cửa thị thực, chỉ số du lịch nhân văn (HTI) và chỉ số phát triển con người (HDI).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ hệ thống thống kê chính thức của Tổng cục Du lịch Việt Nam giai đoạn 1990 - 2005, các báo cáo chuyên ngành của Cơ quan Du lịch Thái Lan (TAT), Bộ Du lịch Malaysia, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP 2004) và bảng xếp hạng 117 quốc gia của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2005).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ dữ liệu thống kê vĩ mô của ngành du lịch Việt Nam qua chuỗi thời gian 13 năm (1993 - 2005) và 4 thị trường đối chuẩn trọng điểm gồm Thái Lan, Malaysia, Singapore và Tây Ban Nha. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các quốc gia dẫn đầu về thị phần đón khách quốc tế tại ASEAN và thế giới nhằm rút ra những khoảng cách cạnh tranh rõ nét nhất.

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chuẩn (benchmarking). Lý do lựa chọn phương pháp so sánh đối chuẩn là nhằm định vị chính xác vị thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam trước các đối thủ trực tiếp trong khu vực, từ đó nhận diện các điểm nghẽn về hạ tầng, chất lượng sản phẩm và chính sách thị thực để xây dựng lộ trình nâng cấp phù hợp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng quy mô thị phần còn rất khiêm tốn so với khu vực. Lượng khách quốc tế đã tăng từ 187.573 lượt năm 1989 lên 1,78 triệu lượt năm 1999 và đạt 3,478 triệu lượt năm 2005. Tuy nhiên, con số này chỉ bằng khoảng 21,2% so với Malaysia (16,4 triệu lượt khách năm 2005) và bằng 25,2% so với Thái Lan (đón gần 13,8 triệu lượt khách năm 2005), cho thấy khoảng cách thu hút dòng khách toàn cầu vẫn còn rất lớn.

Thứ hai, hệ thống cơ sở lưu trú tăng trưởng vượt bậc về số lượng nhưng mất cân đối nghiêm trọng về chất lượng. Tổng số buồng phòng lưu trú cả nước tăng hơn 7,3 lần, từ 13.050 phòng năm 1992 lên 95.700 phòng năm 2005. Dẫu vậy, toàn quốc chỉ có 927 khách sạn và resort được xếp hạng từ 1 đến 5 sao với 36.687 phòng (chiếm 38,3% tổng số phòng), trong đó phân khúc khách sạn 5 sao cao cấp chỉ có 18 cơ sở với 5.687 buồng phòng, dẫn đến tình trạng quá tải và khan hiếm phòng trầm trọng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong các mùa cao điểm.

Thứ ba, kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ vận chuyển chuyên biệt cho du lịch còn thiếu thốn và chi phí cao. Dù cả nước có 22 cảng hàng không và nguồn vốn đầu tư nâng cấp hạ tầng sân bay vượt mốc 1.000 tỷ đồng giai đoạn 2000 - 2005, chỉ có 3 sân bay quốc tế tiếp nhận các chuyến bay đường dài. Hệ thống phương tiện vận chuyển đường bộ với hơn 10.000 xe du lịch nhưng hầu như vắng bóng các dòng xe chất lượng cao từ 30 đến 45 chỗ có trang thiết bị tiện nghi đạt chuẩn phục vụ du khách cao cấp do rào cản thuế nhập khẩu phương tiện còn ở mức cao.

Thứ tư, chỉ số năng lực cạnh tranh tổng thể và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp bị tụt hạng liên tiếp. Báo cáo của WEF năm 2005 chỉ ra chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam tụt từ hạng 77 xuống hạng 81 trên 117 quốc gia, và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp tụt từ hạng 79 xuống hạng 80 trên 116 quốc gia, nới rộng khoảng cách tụt hậu từ 2 đến 11 bậc so với các nước ASEAN.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm vị thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam bắt nguồn từ việc chậm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ diện rộng sang chiều sâu chất lượng. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch quốc gia của Việt Nam chỉ dao động dưới 2 triệu USD mỗi năm, quá nhỏ bé khi đặt cạnh mức 50 đến 80 triệu USD mỗi năm mà Chính phủ Thái Lan cấp cho Cơ quan Du lịch Thái Lan (TAT). Do thiếu nguồn lực, Việt Nam chưa thể triển khai các chiến dịch tiếp thị mang tầm vóc toàn cầu như Amazing Thailand hay Truly Asia của Malaysia.

Bên cạnh đó, chuỗi giá trị dịch vụ du lịch thiếu tính liên kết liên ngành và thiếu các trung tâm thương mại phục vụ mua sắm cao cấp. Trong khi lễ hội siêu giảm giá Mega Sale của Malaysia giúp doanh thu ngành du lịch tăng vọt từ 12,3 tỷ Ringgit năm 1999 lên 48,5 tỷ Ringgit năm 2004, du khách đến Việt Nam vẫn thiếu không gian chi tiêu ngoài dịch vụ lưu trú và ăn uống cơ bản.

Trên phương diện trình bày khoa học, bức tranh thực trạng này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện đà tăng trưởng số buồng phòng lưu trú giai đoạn 1992 - 2005 (từ 13.050 phòng vọt lên 95.700 phòng), kết hợp với bảng ma trận so sánh đối chuẩn 8 chỉ số của WTTC giữa Việt Nam, Thái Lan và Malaysia. Sự kết hợp giữa biểu đồ và bảng phân tích giúp làm nổi bật rõ nét điểm nghẽn về chỉ số công nghệ, chỉ số mở cửa thị thực và chỉ số hạ tầng du lịch của Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái quy hoạch và nâng cấp chất lượng chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng chính quyền các địa phương trọng điểm cần tập trung khai thác hiệu quả 3.260 km bờ biển và hệ thống hơn 2.500 di tích xếp hạng quốc gia; ưu tiên thu hút nguồn vốn tư nhân phát triển các khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp tại Phan Thiết, Nha Trang, Phú Quốc nhằm nâng tỷ lệ buồng phòng đạt chuẩn 4 - 5 sao lên mức 45% tổng cơ sở lưu trú toàn quốc trước năm 2010.

Thứ hai, gia tăng ngân sách và đổi mới chiến lược marketing, xúc tiến du lịch quốc tế. Tổng cục Du lịch cần trình Chính phủ nâng kinh phí xúc tiến du lịch quốc gia lên mức 15 đến 20 triệu USD hàng năm trong giai đoạn 2006 - 2010; nhanh chóng thành lập từ 5 đến 10 văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại các thị trường nguồn trọng điểm như Nhật Bản, Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á nhằm xây dựng thương hiệu điểm đến nhất quán và chuyên nghiệp.

Thứ ba, cải cách thể chế quản lý và nới lỏng chính sách thị thực xuất nhập cảnh. Bộ Ngoại giao và Bộ Công an cần phối hợp mở rộng chính sách miễn thị thực đơn phương cho công dân từ 15 đến 20 quốc gia có mức chi tiêu du lịch cao; đồng thời triển khai cơ chế phối hợp liên ngành hàng không - lữ hành - khách sạn để giảm từ 20% đến 30% giá thành tour trọn gói, học tập kinh nghiệm từ Chương trình FUTURES của Tây Ban Nha (nơi ngành du lịch đóng góp 12% GDP và tạo ra 10% việc làm).

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch toàn diện. Hiệp hội Du lịch Việt Nam cùng hệ thống các trường đào tạo nghề du lịch cần triển khai kế hoạch đào tạo bồi dưỡng lại cho ít nhất 60% lực lượng lao động trực tiếp trong ngành (tương đương khoảng 150.000 lao động) đạt chuẩn kỹ năng nghề du lịch quốc tế trước năm 2010, tập trung vào trình độ ngoại ngữ, nghiệp vụ đón tiếp và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước tại Tổng cục Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng Sở Du lịch các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế thi hành Luật Du lịch năm 2005 và xây dựng Chiến lược cạnh tranh du lịch quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 với tầm nhìn đến năm 2020.

Thứ hai, ban giám đốc và các nhà quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp lữ hành quốc tế, chuỗi khách sạn và khu nghỉ dưỡng. Tài liệu mang đến góc nhìn thực tiễn về xu hướng tiêu dùng của du khách quốc tế, giúp doanh nghiệp thiết kế sản phẩm du lịch MICE, tối ưu hóa chính sách giá và nâng cao tỷ lệ lấp đầy buồng phòng từ mức trung bình 55% lên trên 75% trong các mùa thấp điểm.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc khối ngành Kinh tế phát triển, Du lịch học và Quản trị kinh doanh. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng khung đánh giá 8 chỉ số của WTTC và mô hình đối chuẩn năng lực cạnh tranh trên mẫu 117 nền kinh tế.

Thứ tư, các nhà đầu tư trong nước, quốc tế và các tổ chức tài chính. Công trình phác thảo bức tranh toàn cảnh về nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng 22 cảng hàng không và hệ thống hơn 100 khu nghỉ dưỡng ven biển, tạo tiền đề để các tổ chức xây dựng phương án giải ngân dự án đầu tư du lịch với quy mô trên 500 triệu USD.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam vẫn xếp thứ 81 trên 117 quốc gia vào năm 2005 dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú? Tài nguyên thiên nhiên với 3.260 km bờ biển và hơn 2.500 di tích xếp hạng cấp quốc gia chỉ mang lại lợi thế so sánh tĩnh. Năng lực cạnh tranh thực sự của điểm đến phụ thuộc vào năng lực sáng tạo, chất lượng cơ sở hạ tầng, sự thông thoáng về thị thực và hiệu quả xúc tiến thị trường - những tiêu chí mà Việt Nam đạt điểm số rất thấp theo đánh giá của WEF.

Kinh nghiệm nổi bật nhất từ chiến dịch Amazing Thailand mà Việt Nam có thể vận dụng là gì? Thái Lan đầu tư nguồn ngân sách xúc tiến mạnh mẽ từ 50 đến 80 triệu USD mỗi năm cho TAT, triển khai các chiến dịch tiếp thị có chủ đề linh hoạt theo từng năm và thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa hàng không, lữ hành, khách sạn nhằm tạo gói sản phẩm kích cầu trọn gói, giúp nước này đón hơn 15,12 triệu lượt khách vào năm 2006.

Hệ thống cơ sở lưu trú của Việt Nam giai đoạn 1992 - 2005 tồn tại những bất cập cơ bản nào? Mặc dù số lượng phòng tăng trưởng ngoạn mục hơn 7,3 lần từ 13.050 phòng lên 95.700 phòng, cơ cấu lưu trú lại thiếu hụt phân khúc cao cấp khi chỉ có 18 khách sạn 5 sao với 5.687 phòng trên toàn quốc (chiếm chưa đầy 6% tổng số phòng), gây ra tình trạng quá tải nghiêm trọng vào mùa cao điểm tại các đô thị lớn.

Chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh FUTURES của Tây Ban Nha mang lại bài học thể chế gì? Tây Ban Nha đã triển khai 5 kế hoạch tác nghiệp tích hợp đồng thời 3 mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, kết hợp hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp cho các doanh nghiệp và trao quyền chủ động cho các cộng đồng tự trị, giúp nâng tỷ trọng du lịch trong GDP từ 8,09% năm 1990 lên 10,57% năm 1998 và đạt doanh thu 45,2 tỷ USD năm 2004.

Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) sử dụng những chỉ số then chốt nào để đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến? WTTC sử dụng hệ thống 8 chỉ số tổng hợp bao gồm: năng lực cạnh tranh giá (giá khách sạn và PPP), phát triển hạ tầng, chất lượng môi trường, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực giáo dục, độ mở cửa thị thực và thương mại, chỉ số du lịch nhân văn (HTI) và chỉ số phát triển xã hội (HDI).

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch dựa trên các mô hình kinh tế học hiện đại và khung 8 chỉ số chuẩn mực của WTTC.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1990 - 2005 với mức tăng trưởng ấn tượng 27% mỗi năm về khách quốc tế và đạt doanh thu 30.000 tỷ đồng, đồng thời chỉ rõ sự tụt hạng về chỉ số cạnh tranh tổng thể (xếp thứ 81 trên 117 quốc gia).
  • Phân tích chi tiết các điểm nghẽn hạ tầng khi chỉ có 18 khách sạn 5 sao với 5.687 phòng và kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch quốc gia dưới 2 triệu USD mỗi năm.
  • Rút ra bài học thực tiễn đắt giá từ Thái Lan, Malaysia và Tây Ban Nha trong việc định vị thương hiệu quốc gia, tổ chức sự kiện mua sắm quy mô lớn và chuẩn hóa chất lượng dịch vụ theo định hướng bền vững.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao nhằm tái cấu trúc sản phẩm, mở rộng thị thực, tăng cường ngân sách tiếp thị và đào tạo 150.000 nhân sự du lịch đạt chuẩn quốc tế giai đoạn 2006 - 2010.

Đóng góp chính của luận văn là xây dựng hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc, hỗ trợ các nhà quản lý vĩ mô giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành du lịch Việt Nam trước thềm hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong giai đoạn 2006 - 2010, các bộ ngành liên quan cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Du lịch 2005, tập trung nguồn lực thực hiện đồng bộ các giải pháp trên để đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, khẳng định vững chắc vị thế của Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới.