phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm bốn chƣơng. Lý luận chung về kiểm soát chi Ngân sách Nhà nƣớc. Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng kiểm soát chi NSNN trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên.
Giải pháp tăng cƣờng kiểm soát chi NSNN tỉnh Hƣng Yên. 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan về Ngân sách Nhà nƣớc và chi Ngân sách Nhà nƣớc 1. Ngân sách Nhà nước a.
Khái niệm Ngân sách Nhà nƣớc Ngân sách Nhà nƣớc là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nƣớc, gắn liền với kinh tế hàng hóa - tiền tệ. Qua chắt lọc, đúc kết từ những kinh nghiệm và thực tế hình thành Ngân sách Nhà nƣớc của các nƣớc trên thế giới, ứng với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử Việt Nam và điều kiện kinh tế cụ thể của Việt Nam, Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng xong Luật Ngân sách Nhà nƣớc. Về bản chất NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nƣớc và Xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nƣớc huy động và sử dụng các nguồn Tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình. NSNN có 2 chức năng cơ bản: 1- Huy động nguồn Tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dự toán của Nhà nƣớc.
2- Thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) của Nhà nƣớc. Từ các nội dung trên đây, hình thành khái niệm: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nƣớc” 4 “Ngân sách Nhà nƣớc phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nƣớc với các chủ thể kinh tế - xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua việc tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nƣớc và Nhà nƣớc chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể thụ hƣởng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Ngân sách nhà nƣớc là nơi biểu hiện tập trung nhất các mối quan hệ kinh tế. Hoạt động của Ngân sách Nhà nƣớc không thể mang tích tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nƣớc.
Phân cấp Ngân sách Nhà nƣớc Hệ thống NSNN đƣợc tổ chức gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nƣớc. Theo quy định của pháp luật, mỗi cấp chính quyền có Ngân sách riêng. Do đó, gắn với bốn cấp chính quyền Ngân sách cũng đƣợc tổ chức thành bốn cấp tƣơng ứng gồm: Ngân sách trung ƣơng, Ngân sách tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ƣơng; Ngân sách huyện, quận, thị xã; Ngân sách xã, (phƣờng, thị trấn). Ngân sách trung ƣơng quản lý thu, chi theo ngành kinh tế.
Nó luôn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống NSNN. Ngân sách trung ƣơng cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc trung ƣơng (sự nghiệp văn hóa - xã hội; sự nghiệp kinh tế; an ninh - quốc phòng; trật tự an toàn xã hội; đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng v. Trên thực tế Ngân sách trung ƣơng là Ngân sách của cả nƣớc, tập trung đại bộ phận nguồn thu và đảm bảo các nhu cầu chỉ mang tính quốc gia. Ngân sách địa phƣơng quản lý thu NSNN trên địa bàn và chi NSNN địa phƣơng.
HĐND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi chung là NSNN cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phƣơng phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. Chính quyền cấp 5 tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác thế mạnh trên địa bàn địa phƣơng để tăng nguồn thu, bảo đảm chi và thực hiện cân đối Ngân sách cấp mình. Quan hệ giữa các cấp Ngân sách trong hệ thống NSNN đƣợc thực hiện: Ngân sách trung ƣơng và Ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phƣơng đƣợc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Thực hiện việc bổ xung từ Ngân sách của chính quyền Nhà nƣớc cấp trên cho Ngân sách của chính quyền Nhà nƣớc cấp dƣới nhằm đảm bảo sự công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, các địa phƣơng.
Số bổ xung này là khoản thu của Ngân sách cấp dƣới. Trƣờng hợp cơ quan quản lý Nhà nƣớc cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nƣớc cấp dƣới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ Ngân sách cấp trên cho Ngân sách cấp dƣới để thực hiện nhiệm vụ chi đó (kinh phí uỷ quyền). Không đƣợc dùng Ngân sách của cấp này chi cho nhiệm vụ của Ngân sách cấp khác, trừ trƣờng hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ. Chi Ngân sách Nhà nước a.
Khái niệm chi Ngân sách Nhà nƣớc Chi NSNN là quá trình Nhà nƣớc sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung đƣợc vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà nƣớc trong từng công việc cụ thể. Chi NSNN có quy mô rộng và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, các địa phƣơng và cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc. Đối tƣợng chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của NSNN đƣợc bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. 6 Chi NSNN là sự liên kết hữu cơ giữa Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể quản lý với khách thể quản lý là các đơn vị sử dụng NSNN.
Tác động của chi NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống bao gồm nhiều biện pháp khác nhau, đƣợc biểu hiện dƣới dạng cơ chế quản lý. Cơ sở của chi NSNN là sự vận dụng các qui luật kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan. Mục tiêu của chi NSNN là với một số tiền nhất định đƣợc sử dụng sẽ đem lại hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội. Đồng thời giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa một bên là Nhà nƣớc và một bên là các chủ thể khác trong xã hội.
Nội dung và phân loại chi Ngân sách Nhà nƣớc Chi Ngân sách Nhà nƣớc bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, chi trả nợ của Nhà nƣớc, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Cơ cấu chi NSNN đƣợc hiểu là hệ thống các khoản chi NSNN bao gồm các khoản chi và tỷ trọng của nó trong tổng số chi NSNN. Nhằm phân tích, đánh giá, định hƣớng chi và đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý đã đƣợc xác định trƣớc, ngƣời ta tiến hành phân loại chi theo nhiều tiêu thức khác nhau. Phân loại chi NSNN là việc xắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức nhất định vào các nhóm, các loại chi.
Việc phân loại chi NSNN có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý chi NSNN. Qua việc phân loại chi NSNN sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng khoản chi. Mục đích của việc phân loại chi NSNN là nhằm: Thực hiện kế toán chi NSNN; thống kê tình hình chi NSNN, giúp cho việc xây dựng dự toán NSNN, giúp cơ quan có thẩm quyền 7 đề ra những chính sách thích hợp nhất trong việc quản lý và điều hành chính sách chi tiêu NSNN theo kế hoạch hàng năm, trung hạn và dài hạn; tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý Nhà nƣớc về Ngân sách, các đơn vị sử dụng Ngân sách, nhân dân. theo dõi, kiểm tra, giám sát, kiểm toán tình hình quản lý và sử dụng nguồn lực Tài chính công, thực hiện công khai, dân chủ về Tài chính ở các cấp; xác định trách nhiệm của các đối tƣợng có liên quan đến phân bổ và sử dụng nguồn lực Tài chính công.
Thông thƣờng, việc phân loại chi NSNN gắn liền với tiêu thức phân loại và có một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau: Theo mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, thì chi NSNN đƣợc chia thành chi cho đầu tƣ phát triển và chi cho tiêu dùng. Chi cho đầu tƣ phát triển là quá trình Nhà nƣớc sử dụng một phần vốn tiền tệ đã đƣợc tạo lập thông qua hoạt động thu NSNN để đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tƣ phát triển sản xuất nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Các khoản chi này phần lớn sẽ tạo ra sản phẩm tiêu dùng trong tƣơng lai, làm cho nền kinh tế tăng trƣởng. Do vậy, ngƣời ta còn gọi các khoản chi này là chi tích luỹ.
Chi cho tiêu dùng là những khoản chi dùng để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ngay trong hiện tại để đảm bảo hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc, các cá nhân và tổ chức. Phân loại chi NSNN theo mục đích kinh tế xã hội cho ta biết một cách toàn diện và ảnh hƣởng lâu dài của việc chi NSNN đến sự phát triển kinh tế - xã hội, thấy rõ những mục tiêu mà Chính phủ đang theo đuổi. Đồng thời còn cho biết đƣợc chính sách đầu tƣ phát triển kinh tế của Chính phủ khi sử dụng các nguồn lực quốc gia. Mặt khác, cách phân loại này còn cho ta thấy tính chất và đặc điểm của chi đầu tƣ phát triển và chi tiêu dùng có những khác biệt 8 cơ bản.
Từ đó nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý và tổ chức kiểm soát, thanh toán các loại chi này cũng phải khác nhau. Theo tính chất của các khoản chi, chi NSNN đƣợc chia thành: Chi cho y tế; chi cho giáo dục; chi quản lý Nhà nƣớc; chi phúc lợi xã hội; chi đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội. Cách phân loại này cho ta biết cụ thể chi của NSNN cho từng lĩnh vực và các hoạt động của Chính phủ hƣớng về lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội. Theo yếu tố, thì chi NSNN đƣợc chia thành: Chi đầu tƣ; chi thƣờng xuyên; chi khác.