Luận văn: Hoàn thiện quản lý thuế DN ngoài quốc doanh tại CCT Hai Bà Trưng

Luận văn thạc sĩ phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ

1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế

1.2. Đặc điểm của Thuế

1.3. Phân loại thuế

1.4. Vai trò của Thuế

1.5. Công tác quản lý thuế

1.6. Đặc điểm quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.7. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH Ở CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG

2.1. Cơ cấu tổ chức và công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

2.2. Khái quát về tình hình thực hiện quản lý thuế tại Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng trong thời gian vừa qua

2.3. Thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

2.3.1. Giai đoạn trước khi áp dụng Luật quản lý thuế

2.3.2. Công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế

2.3.3. Công tác xử lý tờ khai thuế

2.3.4. Công tác thu nợ và cưỡng chế thuế

2.3.5. Công tác thanh tra kiểm tra

2.4. Giai đoạn sau khi áp dụng Luật Quản lý thuế

2.4.1. Công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

2.4.2. Công tác kê khai, kế toán thuế

2.4.3. Công tác quản lý nợ thuế

2.4.4. Công tác thanh tra kiểm tra

2.5. Đánh giá công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

2.6. Một số thành tựu đã đạt được trong công tác quản lý thuế sau khi có Luật Quản lý thuế

2.7. Nguyên nhân của thành tựu

2.8. Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

2.9. Những hạn chế của công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

2.10. Nguyên nhân của hạn chế công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

2.11. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Mục tiêu, quan điểm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

3.2.1. Hiện đại hóa công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế

3.2.2. Hiện đại hóa công tác quản lý nợ

3.2.3. Công tác kê khai kế toán thuế

3.2.4. Công tác kiểm tra thuế

3.2.4.1. Đổi mới toàn diện cơ chế kiểm tra
3.2.4.2. Công nghệ kiểm tra
3.2.4.3. Đổi mới tổ chức và cán bộ kiểm tra thuế

3.2.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng

3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước

3.3.2. Kiến nghị với ngành thuế

3.3.3. Kiện toàn bộ máy quản lý thuế

3.3.4. Nâng cao năng lực cán bộ thuế

3.3.5. Yêu cầu đặt ra với đối tượng nộp thuế đáp ứng Luật Quản lý thuế

3.4. Kết luận Chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác quản lý thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc hoàn thiện công tác này là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không chỉ đóng góp vào ngân sách mà còn tạo ra nhiều việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

1.1. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại quận Hai Bà Trưng

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại quận Hai Bà Trưng có sự đa dạng về quy mô và lĩnh vực hoạt động. Chúng thường gặp khó khăn trong việc tuân thủ các quy định về thuế do thiếu thông tin và hỗ trợ từ cơ quan thuế. Điều này dẫn đến tình trạng trốn thuế và lách thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách.

1.2. Vai trò của công tác quản lý thuế trong phát triển kinh tế

Công tác quản lý thuế không chỉ là việc thu thuế mà còn là công cụ điều tiết kinh tế. Qua đó, nhà nước có thể kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động kinh tế, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập và khuyến khích sản xuất kinh doanh.

II. Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Thực trạng công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng cho thấy nhiều vấn đề tồn tại. Mặc dù đã có những cải cách trong quản lý thuế, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt yêu cầu. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường gặp khó khăn trong việc kê khai và nộp thuế, dẫn đến tình trạng nợ thuế gia tăng.

2.1. Những thách thức trong công tác quản lý thuế

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ cơ quan thuế. Nhiều doanh nghiệp không nắm rõ các quy định về thuế, dẫn đến việc kê khai không chính xác. Hơn nữa, việc kiểm tra và thanh tra thuế còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nhân lực và công nghệ.

2.2. Đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế hiện tại

Hiện tại, công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng chưa đạt hiệu quả cao. Tình trạng nợ thuế vẫn còn phổ biến, và nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình.

III. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Để hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cần áp dụng các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc hiện đại hóa công tác quản lý thuế và nâng cao năng lực cán bộ thuế là rất cần thiết.

3.1. Hiện đại hóa công tác quản lý thuế

Cần áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế để nâng cao hiệu quả công tác. Việc xây dựng hệ thống quản lý thuế điện tử sẽ giúp giảm thiểu thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc kê khai và nộp thuế.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ thuế

Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ thuế là một trong những giải pháp quan trọng. Cán bộ thuế cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các giải pháp đề xuất không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

4.1. Kết quả đạt được từ các giải pháp

Sau khi áp dụng các giải pháp, tình hình nợ thuế đã có sự cải thiện đáng kể. Doanh nghiệp đã chủ động hơn trong việc kê khai và nộp thuế, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy rằng, việc phối hợp giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp là rất quan trọng. Cần có sự hỗ trợ kịp thời từ cơ quan thuế để doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ thuế một cách tốt nhất.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng cần được hoàn thiện hơn nữa trong tương lai. Việc áp dụng các giải pháp hiện đại và nâng cao năng lực cán bộ thuế sẽ giúp cải thiện tình hình quản lý thuế, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.

5.1. Định hướng phát triển công tác quản lý thuế

Trong tương lai, cần tiếp tục cải cách công tác quản lý thuế theo hướng hiện đại hóa và minh bạch hóa. Điều này sẽ giúp tạo ra môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và thực hiện nghĩa vụ thuế.

5.2. Tầm quan trọng của công tác quản lý thuế trong phát triển kinh tế

Công tác quản lý thuế không chỉ là nghĩa vụ của doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo công bằng xã hội và phát triển bền vững. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb hoàn thiện công tác quản lý thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận hai bà trưng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số lý luận về thuế và công tác quản lý thuế Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh ở Chi cục thuế Quận Hai bà trưng Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, Nhà nƣớc chỉ có thể và cần phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, một phần thu nhập cho Nhà nƣớc. Hình thức đóng góp ấy chính là thuế.

Ngay từ khi Nhà nƣớc ra đời thì thuế cũng xuất hiện, thuế là “sản phẩm” tất yếu từ sự xuất hiện hệ thống bộ máy Nhà nƣớc. Ngƣợc lại, thuế là công cụ đảm bảo cung cấp phƣơng tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống bộ máy Nhà nƣớc. Thuế ra đời trong điều kiện Nhà nƣớc pháp quyền thời cổ đến giai đoạn xã hội phong kiến thì hoàn thiện dần. Thuế có tính hai mặt thể hiện rõ nét thông qua mức thuế suất cao hay thấp đồng thời còn cả qua bản thân của chính loại thuế mà Nhà nƣớc thu vào cho Ngân khố của mình.

Thứ nhất, thuế sẽ kìm hãm đối tƣợng nộp thuế về khía cạnh nào đó. Thứ hai, thuế sẽ khuến khích đối tƣợng đó hoạt động sản xuất kinh doanh hay ngành nghề,. Tất cả còn phụ thuộc vào tính hợp lý, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và công bằng của thuế và hiệu lực của bộ máy Nhà nƣớc. Ở nƣớc ta, đến nay chƣa có một khái niệm thống nhất về thuế.

Theo từ điển tiếng Việt- Trung tâm từ điển học(1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,.buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức quy định. Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, nên chƣa thật đầy đủ và chính xác đƣợc bản chất của thuế. Đến nay, tuy chƣa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhƣng 5 các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ đƣợc bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật đƣợc các khía cạnh sau đây: -Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp. -Những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc.

-Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nƣớc các khoản thuế đã đƣợc pháp luật quy định. Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên ta có thể đƣa ra một định nghĩa tổng quát về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định, không mang tính hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội. Đặc điểm của Thuế a. Tính pháp lý cao Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã đƣợc quy định trong hiến pháp- Đạo luật gốc của một quốc gia.

Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội- Cơ quan quyền lực Nhà nƣớc tối cao. Mặt khác tính quyền lực Nhà nƣớc cũng thể hiện ở chỗ Nhà nƣớc không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã đƣợc xác định trong các Văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nƣớc ban hành. Tính bắt buộc Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nƣớc thực hiện phƣơng thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu 6 nhập quốc dân dƣới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của ngƣời nộp thuế đƣợc chuyển giao bắt buộc cho Nhà nƣớc mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế.

Với đặc điểm này, thuế không giống nhƣ các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhƣng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật. Tính không hoàn trả trực tiếp Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế đƣợc thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nƣớc không hoàn toàn dựa trên mức độ ngƣời nộp thuế thừa hƣởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nƣớc cung cấp. Ngƣời nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nƣớc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nƣớc. Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nƣớc sẽ không đƣợc hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế.

Ngƣời nộp thuế sẽ nhận đƣợc một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nƣớc đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà ngƣời nộp thuế đƣợc hƣởng thụ không nhất thiết tƣơng đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nƣớc. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả. Phân loại thuế Phân loại thuế là sự sắp xếp các sắc thuế trong một hệ thống chính sách thuế thành những nhóm khác nhau theo các tiêu thức nhất định. * Dựa theo phƣơng thức đánh thuế: hệ thống thuế đƣợc chia làm hai loại - Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của ngƣời nộp thuế.

7 Thuế trực thu có đặc điểm là đối tƣợng nộp thuế theo luật quy định đồng nhất với ngƣời phải chịu thuế. Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thu nhập của ngƣời nộp thuế. Nhƣ vậy thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho ngƣời khác khó khăn hơn. Về nguyên tắc loại thuế này mang tính chất luỹ tiến vì nó tính đến khả năng của ngƣời nộp thuế, ngƣời có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn ngƣời có thu nhập thấp thì nộp thuế ít hơn.

Loại thuế trực thu thƣờng bao gồm các sắc thuế đánh trên thu nhập của tổ chức và cá nhân. Ở nƣớc ta các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp(TNDN), thuế thu nhập cá nhân(TNCN), thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp,. Ƣu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố tƣơng đối độc lập đến thu nhập của ngƣời nộp thuế nhƣ hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình.Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cƣ, do đó đã đảm bảo đƣợc tính công bằng trong xã hội. Nhƣợc điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía ngƣời nộp thuế khi Nhà nƣớc điều chỉnh tăng thuế.

Hơn nữa việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp. Số thu động viên vào ngân sách thƣờng chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém. - Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của ngƣời nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ. Ngƣời tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ đó là ngƣời chịu loại thuế này.

Thuế gián thu có đặc điểm là ngƣời nộp thuế theo luật và ngƣời chịu thuế không đồng nhất với nhau. Ngƣời nộp thuế là ngƣời sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, còn ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng các hàng hoá đó, họ 8 mua hàng hoá với giá cả trong đó có cả thuế. Loại thuế này có sự chuyển dịch gánh nặng thuế trong những trƣờng hợp nhất định. Thuế gián thu ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trƣờng.

Tuy nhiên, sự ảnh hƣởng đó của thuế gián thu không những chịu chi phối của mối quan hệ cung cầu trên thị trƣờng, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị trƣờng, trong đó có sự tác động của thuế, tức là thị trƣờng đó là thị trƣờng cạnh tranh hay độc quyền. Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính chất luỹ thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của ngƣời chịu thuế, ngƣời có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế nhƣ nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ. Loại thuế này thƣờng là các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng. Ở nƣớc ta các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế Giá trị gia tăng(GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt(TTĐB), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,.

Ƣu điểm của thuế gián thu là đối tƣợng chịu thuế rất rộng. Thuế gián thu đƣợc che đậy qua giá bán hàng hoá, dịch vụ nên ngƣời chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nƣớc đánh thuế. Thuế gián thu đem lại nguồn thu thƣờng xuyên và ổn định cho Ngân sách Nhà nƣớc(NSNN). Đối tƣợng quản lý thu thuế cúng tập trung hơn, nghiệp vụ tính và thu thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so với thuế trực thu.

Nhƣng loại thuế này cúng có nhƣợc điểm là có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Nếu tính tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì ngƣời giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so với ngƣời nghèo. * Dựa vào cơ sở tính thuế: -Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm đƣợc. Thu nhập kiếm đƣợc từ nhiều nguồn: từ lao động dƣới dạng tiền lƣơng, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dƣới dạng lợi 9 nhuận, lợi tức cổ phần,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ