Luận văn ThS. Phạm Thị Linh: Đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động dệt may Thái Bình

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích lợi ích kinh tế cho người lao động trong doanh nghiệp dệt may tại Thái Bình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

136
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ

1.1.1. Các quan niệm về lợi ích kinh tế, bản chất, đặc trưng và vai trò của lợi ích kinh tế

1.1.2. Hệ thống lợi ích kinh tế ở Việt Nam hiện nay

1.2. LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.2.1. Các yếu tố cấu thành lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp

1.2.2. Cơ chế, chính sách hiện hành của Nhà nước trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động

1.3. QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.3.1. Mối quan hệ giữa việc làm, thu nhập và lợi nhuận

1.3.2. Mối quan hệ giữa đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho người lao động với lợi nhuận

1.3.3. Mối quan hệ giữa điều kiện làm việc, thời gian làm việc, cường độ lao động với năng suất lao động và lợi nhuận

1.4. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.4.1. Kinh nghiệm thế giới

1.4.2. Kinh nghiệm trong nước

1.4.3. Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với việc giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƯ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH

2.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI ÍCH NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY

2.2. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY Ở TỈNH THÁI BÌNH

2.2.1. Khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thái Bình

2.2.2. Đặc điểm lao động và sử dụng lao động trong các doanh nghiệp dệt may ở Thái Bình

2.3. THỰC TRẠNG VIỆC ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƯ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH

2.3.1. Thực trạng việc đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong khâu tuyển dụng, kí kết hợp đồng và mức độ ổn định của việc làm

2.3.2. Thực trạng thu nhập của người lao động

2.3.3. Thực trạng điều kiện làm việc, thời gian làm việc trong quá trình sử dụng lao động

2.3.4. Thực trạng vấn đề nhà ở của người lao động

2.3.5. Thực trạng việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ khác cho người lao động

2.3.6. Thực trạng việc ký kết thỏa ước lao động tập thể

2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƯ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH

2.4.1. Những thành tựu đạt được trong việc thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp dệt may tư nhân ở tỉnh Thái Bình

2.4.2. Những tồn tại trong việc giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động trong các doanh nghiệp dệt may tư nhân ở tỉnh Thái Bình

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƯ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY CỦA TỈNH THÁI BÌNH

3.2. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƯ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH

3.2.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp dệt may tư nhân

3.2.2. Xây dựng củng cố nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, kiểm tra giám sát của nhà nước trong việc giải quyết mối quan hệ hài hòa về lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may tư nhân

3.3. GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƯ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH

3.3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động

3.3.2. Nhóm giải pháp về phía người lao động

3.3.3. Nhóm giải pháp về người sử dụng lao động

3.3.4. Nhóm giải pháp về nâng cao trách nhiệm vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp dệt may

Ngành dệt may tại Thái Bình đã trở thành một trong những ngành công nghiệp chủ lực, đóng góp lớn vào nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều thách thức. Lợi ích kinh tế không chỉ là vấn đề thu nhập mà còn bao gồm điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác. Việc nghiên cứu và phân tích lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp dệt may là cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho ngành này.

1.1. Đặc điểm ngành dệt may ở Thái Bình và ảnh hưởng đến lợi ích người lao động

Ngành dệt may ở Thái Bình có nhiều đặc điểm riêng biệt, bao gồm quy mô sản xuất nhỏ và chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người lao động, khi mà nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc cải thiện điều kiện làm việc và phúc lợi cho công nhân.

1.2. Vai trò của lợi ích kinh tế trong sự phát triển bền vững

Lợi ích kinh tế của người lao động không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Khi người lao động được đảm bảo lợi ích, họ sẽ có động lực làm việc cao hơn, từ đó nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

II. Thách thức trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động

Mặc dù ngành dệt may ở Thái Bình đã có những bước tiến, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động. Các vấn đề như mức lương thấp, điều kiện làm việc không đảm bảo và thiếu các chế độ bảo hiểm xã hội là những yếu tố chính gây khó khăn cho người lao động.

2.1. Mức lương và thu nhập của người lao động

Mức lương của người lao động trong ngành dệt may thường thấp hơn so với mức sống tối thiểu. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ.

2.2. Điều kiện làm việc và an toàn lao động

Nhiều doanh nghiệp dệt may chưa đảm bảo điều kiện làm việc an toàn cho người lao động. Việc thiếu trang thiết bị bảo hộ lao động và môi trường làm việc không an toàn có thể dẫn đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

III. Phương pháp cải thiện lợi ích kinh tế cho người lao động

Để đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động trong các doanh nghiệp dệt may, cần có những phương pháp cải thiện hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao thu nhập mà còn cải thiện điều kiện làm việc và phúc lợi xã hội cho người lao động.

3.1. Cải thiện chính sách lương và phúc lợi

Cần thiết phải điều chỉnh mức lương tối thiểu và xây dựng các chính sách phúc lợi hợp lý cho người lao động. Điều này sẽ giúp họ có cuộc sống tốt hơn và tăng cường động lực làm việc.

3.2. Đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động

Đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động là một trong những giải pháp quan trọng. Khi người lao động có tay nghề cao, họ sẽ có cơ hội nhận được mức lương cao hơn và cải thiện điều kiện làm việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp dệt may ở Thái Bình đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện lợi ích kinh tế không chỉ mang lại lợi ích cho người lao động mà còn cho doanh nghiệp và nền kinh tế địa phương.

4.1. Kết quả từ các doanh nghiệp dệt may thành công

Một số doanh nghiệp dệt may đã áp dụng các chính sách tốt về lợi ích kinh tế cho người lao động và đã đạt được thành công trong sản xuất và kinh doanh. Họ đã tạo ra môi trường làm việc tích cực và thu hút được nhiều lao động chất lượng.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các mô hình thành công

Các mô hình doanh nghiệp thành công trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động có thể được nhân rộng. Những bài học kinh nghiệm này sẽ giúp các doanh nghiệp khác cải thiện điều kiện làm việc và phúc lợi cho người lao động.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho ngành dệt may

Việc đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động trong ngành dệt may ở Thái Bình là một nhiệm vụ quan trọng. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người lao động để tạo ra một môi trường làm việc tốt hơn. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc cải thiện chính sách và nâng cao nhận thức về lợi ích kinh tế.

5.1. Đề xuất chính sách cho người lao động

Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ người lao động, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các phúc lợi khác. Điều này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn trong công việc.

5.2. Tương lai của ngành dệt may tại Thái Bình

Ngành dệt may tại Thái Bình có tiềm năng phát triển lớn. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động, từ đó tạo ra một môi trường làm việc tích cực và hiệu quả.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp dệt may ở thái bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu với 3 chƣơng, 11 tiết. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng việc đảm bảo lợi ích kinh tế của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình.

7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ 1.1 Các quan niệm về lợi ích kinh tế, bản chất, đặc trƣng và vai trò của lợi ích kinh tế 1.1 Các quan niệm về lợi ích kinh tế Lợi ích theo tiếng la tinh là “interest” nghĩa là có ý nghĩa quan trọng, là nguyên nhân hiện thực của các hoạt động xã hội, các sự kiện, thành tựu ẩn dấu đằng sau những sự thúc đẩy trực tiếp động cơ, ý đồ, lý tƣởng…của các cá nhân, tập đoàn xã hội, giai cấp tham gia vào những hoạt động đó. Các nhà kinh tế học cổ điển Anh cho rằng, lợi ích kinh tế tƣ nhân là động lực đầu tiên của sự phát triển xã hội, trong hoạt động kinh tế, sự theo đuổi lợi ích tƣ nhân là nguồn gốc, nguyên nhân làm tăng của cải trong xã hội. Theo Adam Smith (1723-1790), trong quá trình hoạt động kinh tế, mỗi ngƣời đều theo đuổi lợi ích tƣ nhân, đều nỗ lực cải thiện hoàn cảnh của mình, nhƣ thế tất yếu sẽ dẫn đến làm tăng của cải xã hội. Nhƣng xuất phát từ tính vị kỷ của con ngƣời, lợi ích của cá nhân này bị hạn chế bởi lợi ích của cá nhân khác và trong quá trình thực hiện lợi ích kinh tế, tất cả các chủ thể đều có mối quan hệ với nhau.

“Anh cho tôi thứ mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu” [23, tr. Trong quan điểm kinh tế của David Ricardo (1772-1823), lợi ích kinh tế của các giai cấp khác nhau đƣợc xây dựng trên cơ sở lý luận về giá trị. Ông coi tiền lƣơng và lợi nhuận chỉ là hai bộ phận của giá trị và cùng có một nguồn gốc là lao động. Cho nên việc tăng hay giảm tiền lƣơng sẽ không ảnh hƣởng đến giá cả của hàng hoá, mà chỉ ảnh hƣởng đến việc phân phối giá trị đó đƣợc tạo ra giữa công nhân và nhà tƣ bản, và do đó chỉ ảnh hƣởng đến lợi ích của họ về mặt số lƣợng.

Nói cách khác, trong số giá trị mới đƣợc tạo ra, phần của công nhân nhỏ hơn, còn phần của những ngƣời đi thuê công nhân thì lớn hơn. Ricardo coi điều đó là do kết quả 8 của các quy luật tự nhiên trong sự phát triển xã hội, là phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế chính trị [22, tr. Đến giữa thế kỷ XIX, Các Mác (1818-1883) và Ph.Angghen (1820-1895) là những ngƣời đƣa ra phƣơng pháp mới về nguyên tắc trong việc nghiên cứu lợi ích kinh tế. Chủ nghĩa Mác cho rằng, lợi ích không chỉ là biểu hiện cụ thể của quan hệ sản xuất, mà còn là “nguyên tắc cơ bản chi phối hoạt động của con ngƣời” [18, tr.Lênin tiếp tục nghiên cứu cụ thể vấn đề lợi ích kinh tế và cho rằng cần phải thấy những lợi ích là khách quan khi nói: “Lợi ích thúc đẩy cuộc sống các dân tộc” [14, tr.

Những năm gần đây, trên cơ sở những ý kiến tranh luận về vấn đề này từ những năm 60 của thế kỷ XX, một số tác giả đã đi sâu vạch ra những mặt cơ bản khác nhau của quan hệ lợi ích.Sôraép (1986) cho rằng: Lợi ích là sự phản ánh những hệ thống quan hệ phức tạp của một số mặt hoạt động của con ngƣời thông qua một trong những mặt hoạt động khác nhau của họ trong quá trình thực tiễn tác động lẫn nhau của con ngƣời. Hay lợi ích là trạng thái quy định hoạt động, là sản phẩm tất yếu của các quan hệ xã hội hiện có, phản ánh nhận thức của chủ thể, và đƣợc xác định bởi môi trƣờng xã hội, là khả năng và mục đích của sự hoạt động của chủ thể theo sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và xã hội. Ông còn khẳng định, lợi ích xuất hiện trong quá trình hoạt động của cá nhân, nhóm, giai cấp với tƣ cách là mặt cơ bản của hoạt động thực tiễn.Điđcốpxki (1986) nói một cách cụ thể rằng: Lợi ích phản ánh mâu thuẫn giữa nhu cầu và việc thỏa mãn những nhu cầu, nó là sự định hƣớng hoạt động sản xuất của con ngƣời. Nhƣ vậy đa số các tác giả khẳng định lợi ích là cái phản ánh những quan hệ kinh tế, do các quan hệ kinh tế sinh ra và nó gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời.

Tùy theo cách tiếp cận, có thể phân biệt lợi ích theo lĩnh vực nhƣ lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần; theo phạm vi cộng đồng nhƣ lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; theo tính chất chủ thể nhƣ lợi ích dân tộc, lợi ích nhà nƣớc, lợi ích của đảng. Ở đây, luận văn đề cập sâu tới vấn đề lợi ích kinh tế. 9 Ở Việt Nam, tác giả Lê Xuân Tùng cho rằng: Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của con ngƣời. Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu mới có lợi ích.

Nhƣng sẽ là không đúng nếu đồng nhất nhu cầu với lợi ích kinh tế… Lợi ích kinh tế không phải là nhu cầu nói chung (nhƣ nhu cầu về ăn, mặc, ở…) mà là việc thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất, bao gồm cả nội dung của nhu cầu và phƣơng thức thỏa mãn nhu cầu. Vì suy cho cùng, cái thúc đẩy ngƣời ta hành động chính là nhằm thỏa mãn trên thực tế nhu cầu một cách tối ƣu…Có ngƣời hiểu lợi ích kinh tế nhƣ là sự thống nhất giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Theo chúng tôi, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở một quan hệ sản xuất nhất định, không tùy thuộc vào ý muốn con ngƣời…Lợi ích kinh tế tồn tại không tùy thuộc ở chỗ ngƣời ta có nhận thức đƣợc nó hay không, mà do địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội quy định. Vì vậy, về bản chất, lợi ích kinh tế tồn tại khách quan [20, tr.

Trong bài viết đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số 200, PGS.TS Đào Duy Huân viết: Lợi ích kinh tế là cái có ích, cái có lợi về mặt kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế biểu hiện tinh thần khách quan trong hoạt động kinh tế của con ngƣời tức biểu hiện quan hệ sản xuất. Vì vậy các quan hệ kinh tế của mỗi xã hội đƣợc biểu hiện trƣớc hết là lợi ích kinh tế [9]. Tác giả Vũ Hữu Ngoạn viết: Nguồn gốc sâu xa của các động cơ kinh tế là ở chỗ: cuộc sống của con ngƣời bao giờ cũng có nhu cầu và đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu.

Dĩ nhiên không phải nhu cầu nào cũng làm cho con ngƣời theo đuổi, cũng trở thành động cơ. Có nhu cầu chƣa thể có sự chín muồi để thực hiện, có những nhu cầu mang tính hiện thực. Những nhu cầu mang tính hiện thực phụ thuộc vào trình độ của phƣơng thức sản xuất. Khi nhu cầu có điều kiện thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân của con ngƣời, thôi thúc con ngƣời vƣơn lên hành động giành cho kỳ đƣợc.

10 Điều cần nhấn mạnh là không phải bản thân nhu cầu là lợi ích kinh tế, mà nhu cầu khi đƣợc xác định về mặt xã hội mới trở thành lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trƣớc hết các quan hệ sản xuất, nó không tùy thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con ngƣời [21, tr. Ở tất cả các khái niệm đƣợc tiếp cận theo các quan điểm khác nhau theo mức độ trừu tƣợng nông sâu khác nhau có thể thấy rõ hầu hết các tác giả khi đề cập đến khái niệm lợi ích kinh tế đều đề cập đến một phạm trù, đó là nhu cầu kinh tế. Vậy giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu kinh tế có mối quan hệ nhƣ thế nào? Chúng có đồng nhất với nhau hay không? Để hiểu rõ thêm về lợi ích kinh tế ta đi tìm hiểu về mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu kinh tế.

Một số tác giả cho rằng, lợi ích và nhu cầu là những phạm trù phản ánh sự khác biệt hoàn toàn về bản chất và sự tồn tại. Theo họ, cơ sở tác động của lợi ích là các quá trình lao động sản xuất xã hội, còn nhu cầu thì nảy sinh trong mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, giữa con ngƣời với con ngƣời mà trong đó hƣớng vào mục đích nhằm thỏa mãn “cơ thể sống chung”. Những tác giả khác lại đồng nhất nhu cầu và lợi ích. Họ cho rằng, lợi ích là nhu cầu đƣợc quyết định bởi xã hội, là nhu cầu khách quan đƣợc chế định bởi vị trí xã hội giữa các cá nhân, các giai cấp, các dân tộc, các nhóm xã hội, là sự phản ánh chủ quan các nhu cầu tồn tại khách quan.

Từ những quan điểm nêu trên có thể thấy không thể tách rời lợi ích kinh tế ra khỏi nhu cầu kinh tế để xét nó nhƣ một hiện tƣợng riêng rẽ. Nhƣng cũng không thể đồng nhất nhu cầu kinh tế với lợi ích kinh tế. Giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu kinh tế có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Nếu không có nhu cầu kinh tế thì cũng không có lợi ích kinh tế.

Lợi ích kinh tế chỉ có ý nghĩa khi nó đƣợc đặt trong mối quan hệ với nhu cầu kinh tế. Nhu cầu kinh tế thể hiện quan hệ chung của con ngƣời với hoàn cảnh kinh tế xung quanh còn lợi ích kinh tế chẳng những thể hiện mối quan hệ của con ngƣời với hoàn cảnh kinh tế xung quanh mà còn thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời có cùng nhu cầu kinh tế và đối tƣợng thỏa mãn nhu cầu 11 kinh tế với nhau trong việc thực hiện nhu cầu kinh tế ở các giai đoạn lịch sử nhất định. Giữa nhu cầu kinh tế và lợi ích kinh tế có cái chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ