Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành chế tạo hạ nguồn chỉ dao động quanh mức 10% đến 30%, buộc nền kinh tế phải nhập siêu lượng linh kiện và nguyên vật liệu rất lớn. Tại tỉnh Hải Dương, địa phương giữ vị trí trung tâm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 7,4%/năm và tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 16%/năm, các ngành sản xuất mũi nhọn vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung bên ngoài. Cụ thể, ngành dệt may và da giày phải nhập khẩu khoảng 60% đến 70% nguyên phụ liệu; các ngành linh kiện điện tử, lắp ráp ô tô và máy nông nghiệp phải nhập khẩu từ 70% đến 80% linh kiện thành phẩm. Thực tế này làm cho giá trị gia tăng tạo ra tại chỗ rất khiêm tốn, sự tham gia của các doanh nghiệp địa phương vào chuỗi cung ứng toàn cầu còn mờ nhạt.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là sự bất cập trong quy trình và năng lực tổ chức triển khai chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ở cấp địa phương. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về chu trình thực thi chính sách công, phân tích thực trạng triển khai các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh giai đoạn 2011-2015, xác định các điểm nghẽn thể chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách trên địa bàn tỉnh Hải Dương đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian tỉnh Hải Dương với 3 địa bàn trọng điểm là Thành phố Hải Dương, huyện Cẩm Giàng và huyện Bình Giang trong khung thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi đóng góp các luận cứ khoa học nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp của tỉnh, phấn đấu đưa tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến - chế tạo đạt 90% vào năm 2020 và từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thêm 15% đến 20% trong chuỗi cung ứng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết chu trình chính sách công của James Anderson (2001) và các mô hình quản lý công hiện đại. Chu trình triển khai chính sách được cấu trúc hóa thành 3 giai đoạn liên hoàn: chuẩn bị triển khai (xác định bộ máy, xây dựng chương trình hành động, ban hành văn bản hướng dẫn, tập huấn cán bộ); chỉ đạo thực hiện (vận hành hệ thống thông tin, quản lý dự án, điều phối tài chính và liên ngành); kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chính sách. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết chính sách công nghiệp của Ryutaro Komiya (2004) nhằm phân tích các công cụ tác động trực tiếp và gián tiếp của Nhà nước vào việc phân bổ lại nguồn lực giữa các ngành sản xuất.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  1. Công nghiệp hỗ trợ: Ngành sản xuất vật liệu, linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm cung cấp cho khâu lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh theo quy định tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg.
  2. Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ: Tập hợp các công cụ thể chế, ưu đãi tài chính, đất đai, khoa học công nghệ của Nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phụ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh.
  3. Hiệu lực và hiệu quả chính sách: Mức độ chấp hành của các đối tượng liên quan và tỷ lệ so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí nguồn lực đã bỏ ra.
  4. Cụm liên kết ngành (Cluster): Không gian kinh tế liên kết giữa doanh nghiệp hạ nguồn FDI và mạng lưới nhà cung ứng doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2015, báo cáo định kỳ của Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh và Cục Thống kê.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được xây dựng qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích:

  • Khảo sát định lượng qua bảng hỏi: Phát ra 44 phiếu khảo sát tới các doanh nghiệp hoạt động trong 3 phân ngành chủ lực (Cơ khí chế tạo, Điện - điện tử, Dệt may - da giày) trên tổng số 122 doanh nghiệp CNHT toàn tỉnh; thu về 20 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 45,4%, gồm 11 doanh nghiệp chế biến - chế tạo đạt 55%, 5 doanh nghiệp dệt may đạt 50% và 4 doanh nghiệp điện tử đạt 29%). Địa bàn khảo sát tập trung tại TP Hải Dương, huyện Cẩm Giàng và huyện Bình Giang, nơi tập trung phần lớn các khu, cụm công nghiệp dọc Quốc lộ 5A và Quốc lộ 37.
  • Phỏng vấn sâu định tính: Tiến hành phỏng vấn 6 cá nhân giữ vị trí chủ chốt đại diện cho 3 bên trong chu trình chính sách (3 cán bộ quản lý nhà nước thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ; 1 lãnh đạo cấp phòng của Ngân hàng Phát triển khu vực Hải Dương - Hưng Yên; 2 chủ doanh nghiệp tư nhân thuộc lĩnh vực lắp ráp ô tô và linh kiện điện tử).

Lý do lựa chọn cách tiếp cận này là nhằm thu thập góc nhìn đa chiều, đối chiếu giữa cơ quan ban hành, tổ chức trung gian tài chính và đối tượng thụ hưởng trực tiếp. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Excel và kiểm định chéo với số liệu thời gian từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện thực chứng nổi bật về thực trạng triển khai chính sách phát triển CNHT tại tỉnh Hải Dương:

Thứ nhất, quy mô sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tăng trưởng nhanh nhưng đóng góp thực chất của công nghiệp hỗ trợ nội địa rất khiêm tốn. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành năm 2015 ước đạt 123.830 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010), tăng trưởng 18,8% so với năm 2014. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn vẫn ở mức rất thấp: ngành dệt may - da giày chỉ đạt khoảng 30% đến 40%, ngành cơ khí chế tạo và điện tử dao động từ 15% đến 25%.

Thứ hai, việc thụ hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước gần như chưa tiếp cận được khối doanh nghiệp trong nước. Trong giai đoạn 2011-2015, Hội đồng thẩm định dự án phát triển CNHT chỉ tham gia thẩm định được 01 dự án của một doanh nghiệp FDI để hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân trong nước trên địa bàn tỉnh chưa có bất kỳ dự án nào được phê duyệt thông qua cơ chế này do rào cản thủ tục hành chính phức tạp.

Thứ ba, sự thiếu hụt các công cụ hỗ trợ tài chính và tín dụng chuyên biệt. Dư nợ tín dụng trung và dài hạn dành cho lĩnh vực sản xuất sản phẩm CNHT giai đoạn 2010-2013 chỉ chiếm tỷ trọng dưới 5% tổng dư nợ cho vay công nghiệp toàn tỉnh. Hơn 85% doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tự huy động vốn tự có hoặc vay thương mại với lãi suất cao.

Thứ tư, tính liên kết giữa doanh nghiệp FDI hạ nguồn và doanh nghiệp cung ứng nội địa bị đứt gãy. Trong tổng số 122 doanh nghiệp CNHT trên địa bàn năm 2014, các doanh nghiệp FDI chiếm phần lớn về giá trị xuất khẩu và vốn đầu tư, nhưng chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp nội địa có thể trở thành nhà cung ứng cấp 2 hoặc cấp 3 cho các tập đoàn nước ngoài.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ cả hai phía: bộ máy thực thi công và nội tại doanh nghiệp. Về mặt thể chế, tỉnh Hải Dương giai đoạn này chưa có phòng ban chuyên trách về CNHT tại Sở Công Thương; công tác điều phối giữa Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường còn mang tính vụ việc, thiếu chương trình hành động dài hạn. Về phía doanh nghiệp, hơn 80% cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, quản trị theo mô hình hộ gia đình, máy móc thiết bị chậm đổi mới nên không đáp ứng được yêu cầu chất lượng khắt khe của đối tác quốc tế.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn:

  • Tại tỉnh Bắc Ninh, địa phương này đã chủ động ban hành quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2020, xây dựng cụm CNHT 50 ha tại KCN Quế Võ và chi gần 290 tỷ đồng từ ngân sách địa phương (gồm 286,9 tỷ đồng hỗ trợ hạ tầng và 12 tỷ đồng đào tạo nhân lực) để thu hút tập đoàn Samsung Display, từ đó phát triển mạng lưới 130 doanh nghiệp phụ trợ vệ tinh tạo việc làm cho 45.000 lao động.
  • Tại vùng Kansai và tỉnh Osaka (Nhật Bản), chính quyền địa phương chi ngân sách hơn 1,92 tỷ yên (chiếm 84% tổng kinh phí hoạt động của Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Công nghệ Osaka năm 2012) để cung cấp dịch vụ thử nghiệm máy móc, phân tích mẫu 3 chiều và tư vấn kỹ thuật miễn phí cho 99% doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Những dữ liệu trên cho thấy các chỉ số phản ánh điểm nghẽn có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột thể hiện mức độ chênh lệch giữa tỷ lệ nhập khẩu phụ liệu (60% - 80%) và tỷ lệ nội địa hóa (15% - 40%), kết hợp cùng bảng thống kê 122 doanh nghiệp để thấy rõ khoảng cách phát triển giữa các phân ngành.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện việc triển khai chính sách phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Hải Dương:

  1. Hoàn thiện bộ máy tổ chức và cơ chế điều hành cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương chỉ đạo Sở Công Thương chủ trì thành lập Tổ công tác chuyên trách hoặc Trung tâm Phát triển Công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn 2016-2018. Đơn vị này đóng vai trò đầu mối cung cấp dịch vụ một cửa, hướng dẫn 100% thủ tục xác nhận ưu đãi và kết nối dữ liệu doanh nghiệp.
  2. Rà soát, thể chế hóa chính sách và ban hành quy hoạch cụm ngành: Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ban Quản lý các Khu công nghiệp hoàn thành quy hoạch mạng lưới CNHT tỉnh giai đoạn 2016-2020. Dành tối thiểu 50 ha đất sạch tại các KCN thuộc huyện Cẩm Giàng, Bình Giang với cơ chế giảm 30% đến 50% giá thuê hạ tầng trong 3 năm đầu cho các dự án CNHT ưu tiên.
  3. Bố trí ngân sách địa phương lập Quỹ hỗ trợ phát triển CNHT: Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh phê duyệt gói ngân sách mồi khoảng 50 tỷ đến 100 tỷ đồng giai đoạn 2017-2020 để cấp bù lãi suất vay vốn đổi mới công nghệ (hỗ trợ 2% đến 3%/năm), đặt mục tiêu nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng CNHT lên trên 15% tổng dư nợ toàn tỉnh.
  4. Xây dựng mô hình liên kết đào tạo và chuyển giao công nghệ: Sở Khoa học và Công nghệ cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai mô hình hợp tác Sản - Quan - Học giai đoạn 2016-2020, tổ chức đào tạo kỹ thuật chuyên sâu cho 2.000 đến 3.000 lao động tay nghề cao, hỗ trợ kiểm chuẩn chất lượng sản phẩm nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình lên 40% - 45% vào năm 2020.
  5. Kiến nghị Chính phủ và Bộ Công Thương: Sửa đổi, đơn giản hóa quy trình thẩm định dự án CNHT theo hướng phân cấp mạnh cho địa phương, cắt giảm 50% thời gian xét duyệt hồ sơ hưởng ưu đãi thuế theo Nghị định 111/2015/NĐ-CP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp địa phương:
    • Lợi ích: Cung cấp khung phương pháp đánh giá hiệu lực thực thi chính sách và dữ liệu phân tích thực trạng tại cấp tỉnh.
    • Tình huống ứng dụng: Vận dụng trực tiếp vào việc xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp, lập kế hoạch ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp và cải cách thủ tục hành chính tại Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
  2. Lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất phụ trợ:
    • Lợi ích: Nhận diện rõ các tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình chính sách ưu đãi của Nhà nước và các rào cản thâm nhập thị trường.
    • Tình huống ứng dụng: Hoàn thiện hồ sơ năng lực, lập dự án đầu tư đổi mới công nghệ và tìm kiếm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI.
  3. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế:
    • Lợi ích: Nguồn tài liệu học thuật có cấu trúc mẫu mực về ứng dụng lý thuyết chính sách công vào giải quyết bài toán phát triển kinh tế vùng.
    • Tình huống ứng dụng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các môn học Quản lý kinh tế, Chính sách công, hoặc mở rộng đề tài nghiên cứu cho các địa phương khác.
  4. Hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức xúc tiến thương mại và ngân hàng thương mại:
    • Lợi ích: Nắm bắt bức tranh tổng thể về nhu cầu thị trường, vốn vay và đặc tính của 122 doanh nghiệp CNHT trên địa bàn.
    • Tình huống ứng dụng: Thiết kế các chương trình kết nối giao thương B2B và xây dựng gói sản phẩm tín dụng theo chuỗi giá trị phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất trong việc thực thi chính sách phát triển CNHT tại Hải Dương giai đoạn 2011-2015 là gì?

Rào cản thủ tục hành chính phức tạp và sự thiếu vắng bộ máy chuyên trách là trở ngại lớn nhất. Trong suốt giai đoạn 2011-2015, Hội đồng thẩm định dự án CNHT chỉ thẩm định được 01 dự án FDI, không có doanh nghiệp nội địa nào tại Hải Dương tiếp cận được ưu đãi theo Quyết định 12/2011/QĐ-TTg vì quy trình xét duyệt rườm rà và thiếu hỗ trợ hướng dẫn cụ thể từ cấp cơ sở.

Tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh Hải Dương thời điểm khảo sát đạt bao nhiêu?

Khảo sát thực tế giai đoạn 2011-2015 cho thấy tỷ lệ nội địa hóa rất thấp. Ngành may mặc và da giày phải nhập khẩu từ 60% đến 70% nguyên phụ liệu; ngành sản xuất linh kiện điện tử, lắp ráp ô tô và máy móc nông nghiệp phải nhập khẩu khoảng 70% đến 80% linh kiện chi tiết, khiến giá trị gia tăng tạo ra tại chỗ chỉ chiếm tỷ phần nhỏ trong tổng giá trị sản phẩm.

Luận văn đã rút ra bài học gì từ mô hình phát triển CNHT của tỉnh Bắc Ninh?

Nghiên cứu chỉ ra rằng Bắc Ninh thành công nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền qua việc sớm ban hành quy hoạch ngành đến năm 2020, dành 50 ha xây cụm CNHT Quế Võ và giải ngân gần 290 tỷ đồng hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật, đào tạo lao động cho dự án Samsung Display, từ đó tạo lập cụm liên kết với 130 doanh nghiệp phụ trợ vệ tinh.

Kinh nghiệm tài chính của vùng Kansai và tỉnh Osaka (Nhật Bản) có thể áp dụng ra sao tại Hải Dương?

Tỉnh Osaka duy trì hoạt động hỗ trợ 99% doanh nghiệp nhỏ và vừa nhờ nguồn ngân sách công vững mạnh. Điển hình là Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Công nghệ Osaka được ngân sách tỉnh cấp hơn 1,92 tỷ yên (chiếm 84% chi phí) để trang bị máy móc phân tích chuyên sâu và hỗ trợ kỹ thuật miễn phí cho doanh nghiệp, một bài học Hải Dương cần vận dụng để lập quỹ hỗ trợ kỹ thuật.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hải Dương cần làm gì để hấp thụ tốt chính sách hỗ trợ?

Doanh nghiệp cần chủ động chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO, minh bạch hóa báo cáo tài chính để đáp ứng điều kiện tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi, đồng thời tích cực liên kết với các trường dạy nghề và hiệp hội ngành hàng nhằm nâng cao tay nghề người lao động và năng lực đàm phán hợp đồng cung ứng.

Kết luận

Nghiên cứu về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã đúc kết được 5 đóng góp cốt lõi:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng triển khai chính sách giai đoạn 2011-2015, làm rõ nguyên nhân khiến tỷ lệ phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu còn ở mức cao từ 60% đến 80%.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn thể chế về thủ tục thẩm định dự án, sự thiếu hụt kênh tín dụng ưu đãi chuyên biệt và năng lực điều phối liên ngành tại địa phương.
  • Hệ thống hóa bài học kinh nghiệm thực tiễn từ mô hình quản trị công nghiệp vùng Kansai, Osaka (Nhật Bản) và tỉnh Bắc Ninh trong việc lập quỹ ngân sách mồi và xây dựng cụm công nghiệp tập trung.
  • Đề xuất lộ trình 5 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2016-2020 nhằm thúc đẩy công nghiệp chế biến - chế tạo đạt 90% tổng giá trị sản xuất và nâng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.
  • Đóng góp khung cơ sở khoa học, dữ liệu khảo sát 44 doanh nghiệp và 6 phỏng vấn sâu phục vụ đắc lực cho công tác quy hoạch, chỉ đạo điều hành kinh tế cấp tỉnh.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn thiện bộ máy chuyên trách và rà soát quỹ đất công nghiệp trong giai đoạn 2016-2017, tiến tới triển khai toàn diện các quỹ hỗ trợ tài chính giai đoạn 2018-2020. Quý độc giả và các nhà quản lý quan tâm có thể khai thác sâu các luận cứ trong công trình này để hiện thực hóa các chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển bền vững.