Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Để làm rõ những chương mục và nội dung được trình bày trong luận văn, tác giả cố gắng giải thích những khái niệm cơ bản liên quan đề đề tài, cụ thể như sau: Tri thức là “những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật nói chung” [11, tr. Dân gian hiểu với nghĩa là tính từ có nghĩa là “được lưu truyền rộng rãi trong dân thường của xã hội” như Văn học dân gian, các bài thuốc dân gian [11, tr. Vậy Tri thức dân gian nghĩa là những hiểu biết có hệ thống về sự vật nói chung được lưu truyền rộng rãi trong dân thường của xã hội.
Tri thức dân gian (folk knowledge) trong nhiều trường hợp được xem là tri thức truyền thống của một tộc người, một nhóm cư dân, một khu vực, và có chung nội hàm với các thuật ngữ tri thức bản địa (Ingendious Knowledge), tri thức địa phương (local knowledge) [52, tr. Cư dân là “người dân ở trong một vùng địa bàn hành chính ví dụ như cư dân trên đảo, hàng trăm cư dân sống bằng nghề chài lưới [11, tr. Từ đó có thể suy ra, “cư dân ven biển” là những người sinh sống ở một khu vực ven biển nào đó, mà ven biển là tính từ để chỉ sự cư trú, vị trí địa lý của họ. Hệ sinh thái gọi chung địa bàn sinh sống của tất cả các loài sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật), sống trên đó với mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng và sự tác động qua lại thường xuyên giữa địa bàn với sinh vật [11, tr.
Vậy hệ sinh thái biển là nơi mà các loại thực vật, động vật, vi sinh vật biển sống ở môi trường biển và có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng và có sự tác động qua lại giữa chúng. Theo Luật Thủy sản Ngư trường là vùng biển có nguồn lợi Thủy sản tập trung, được xác định để tàu cá đến khai thác [34]. Ngư nghiệp: là vùng kinh tế có chức năng đánh bắt, nuôi và khai thác các loài thủy sản [34]. 8 Ngư cụ truyền thống: là những công cụ, dụng cụ được ngư dân sử dụng để khai thác, đánh bắt các loài thủy, hải sản [34].
Thủy sản là những sản vật ở dưới nước nói chung [11, tr. Hải sản là các sản vật lấy từ biển [11, tr. Vậy hải sản là tập hợp con của thủy sản. Đánh bắt nghĩa là dùng phương tiện để bắt các loại thủy sản, ví dụ: dùng lưới đánh bắt cá [11, tr.
Vậy đánh bắt hải sản là dùng phương tiện để bắt các sản vật từ biển. Cơ sở lý thuyết Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả áp dụng hai lý thuyết đó là lý thuyết sinh thái học nhân văn và lý thuyết nhân học biển. Theo Phan Thị Yến Tuyết (2014), thuật ngữ “Dân tộc học biển” (maritime ethnology) lần đầu tiên xuất hiện trong Đại hội về Dân tộc học và Văn hóa dân gian biển vào năm 1954 tại Neples (Italia). Theo thời gian, thuật ngữ này đã chuyển thành “nhân học biển” (maritime anthropology) như ngày nay… Theo nghĩa bao quát nhất, ngành nhân học biển nghiên cứu tất cả những hiện tượng hay những sự kiện về sinh học, văn hóa sinh học và văn hóa, liên hệ tới những hoạt động của con người (trực tiếp hay gián tiếp) gắn liền với biển cả.
Nửa sau thế kỉ XX người ta có những từ mới mang nghĩa rộng hơn, tức là ngành nhân học này bao gồm hai lĩnh vực nhân học biển và nhân học hàng hải - nhân học về nghề cá, chủ yếu nghiên cứu về văn hóa nghề cá của cư dân. Trong nhân học về nghề cá lại chia làm hai mảng là dụng cụ đánh bắt cá và nghiên cứu đời sống của cư dân làm nghề đánh cá. Tác giả Phan Thị Yến Tuyết cũng cho biết, những trình bày này không phải tất cả các nhà nhân học đều có suy nghĩ như vậy. Mỗi người có một cách nghiên cứu khác nhau.
Sau này, các nghiên cứu về nhân học biển và văn hóa biển xuất hiện, nó bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan như lịch sử đại dương, hệ sinh thái, hải trình của người đi biển… Đã có những nghiên cứu về công cụ đánh bắt và chủ yếu nghiên cứu về văn hóa nghề cá của cư dân (trong đó có cả những nghiên cứu về những vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, kiêng kị và văn học dân gian. của ngư dân và cư dân ven biển). 9 Thuật ngữ này, tuy chỉ mới ra đời và phát triển từ những năm 50 của thế kỉ XX, nhưng nó đã trở thành một đề tài nóng hổi và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nó cũng trở thành một môn học được giảng dạy ở một số trường đại học cho bậc đại học và sau đại học [51, tr.
Với tính chất đa dạng trong hướng nghiên cứu của lý thuyết này, trong luận văn, học viên sử dụng thuật ngữ Nhân học biển để tìm hiểu mối quan hệ giữa môi trường biển và hoạt động sinh tồn của cư dân ven biển, mà chủ yếu tìm hiểu các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như đời sống của cư dân thông qua những tri thức dân gian mà họ sáng tạo trong quá trình sống; sự thích nghi của con người với môi trường, mà cụ thể ở đây là môi trường biển, từ đó hình thành nên những tri thức để tồn tại, mưu sinh trong chính môi trường đó. Và những tri thức này là vốn kinh nghiệm trong đánh bắt hải sản được cư dân đúc kết qua thời gian dài, đặc biệt, để thích ứng với môi trường sống và hoạt động mưu sinh, họ còn sáng tạo ra những yếu tố văn hóa tâm linh, góp phần làm phong phú thêm đời sống cư dân ven biển. Luận văn cũng sử dụng Lý thuyết sinh thái nhân văn (human ecology) là lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường, trong đó tập trung tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm và các mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên. Từ lý thuyết này, vận dụng vào nghiên cứu tri thức dân gian để thấy được sự thích nghi truyền thống của cư dân ven biển với môi trường tự nhiên.
Và môi trường sinh thái tự nhiên tác động đến môi trường sống, tạo ra phương thức sinh tồn và đặc trưng của cư dân ven biển. Vài nét khái quát điều kiện tự nhiên huyện Hậu Lộc Theo số liệu thống kê năm 2003, huyện Hậu Lộc có tổng diện tích tự nhiên là 143,56km2, chiếm 1,31% tổng diện tích tự nhiên tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trong 6 huyện, thị của đồng bằng ven biển ở về phía đông bắc xứ Thanh, cách thành phố Thanh Hóa điểm gần nhất (cầu Sài xã Thuần Lộc) chỉ hơn 10km, điểm xa nhất (mõm Gãnh thuộc đồng cói Đa Tân, xã Đa Lộc) cũng chỉ hơn 30km. Hậu Lộc là một trong những huyện ven biển nằm ở vùng cực bắc Trung bộ, trên tuyến đường sắt xuyên Việt và trục đường Quốc lộ 1A cách Thủ đô Hà Nội 130km về phía đông nam.
Nhìn trên bản đồ, địa giới huyện Hậu Lộc được phân định phù hợp với diên cách tự nhiên của sông núi. Về phía bắc, Hậu Lộc giáp với sông Lèn, vốn là một nhánh của sông Mã, được tách ra từ Ngã Ba Bông (một địa danh mang tên “Ngũ huyện kê” - nơi con gà gáy 5 huyện cùng nghe) chảy về cửa Lạch Sung (còn gọi là cửa Bạch Câu), cũng 10 là biên giới tự nhiên ngăn cách giữa Hậu Lộc với hai huyện Hà Trung và Nga Sơn. Phía tây và nam giáp huyện Hoàng Hóa với đường ranh giới tự nhiên là núi Sơn Trang, ở phía tây, đồi Gai, sông Ấu ở giữa huyện và sông Lạch Trường ở phía đông. Phía đông giáp với biển Đông.
Huyện Hậu Lộc nằm sát vĩ tuyến 20o bắc, điểm cực bắc của huyện Hậu Lộc ở vào tọa độ 19o59’20’’ là mũi Nhọn Làn thuộc xứ Đồng Bản, một bãi bồi của sông Lèn thuộc địa phân làng Thiều Xá xã Cầu Lộc, điểm cực nam ở vĩ tuyến 19o42’55’’ là mũi Xương Cá thuộc đồng muối Nam Tiến xã Hòa Lộc (giáp với thôn Đôn Nghĩa ở chân núi Trường xã Hoằng Yến huyện Hoằng Hóa) với chiều dài từ bắc đến nam khoảng 12km. Điểm cực tây là Eo Hàn (thôn Phông Mục, xã Châu Lộc gần làng Chè xã Hoằng Khánh, Hoằng Hóa) nằm trên đường kinh tuyến 105o59’50’’ đến cực đông là Mõm Gãnh, phần nhô ra biển của đồng cói Đa Tân xã Đa Lộc có tọa độ 105o59’50’’, với chiều dài từ tây sang đông 24km [47, tr. Nhìn một cách tổng quan, Hậu Lộc gắn liền với cấu trúc địa chất, địa hình đặc điểm khí hậu và thủy văn của đồng bằng châu thổ sông Mã. Theo kết quả nhiên cứu của các nhà địa chất và khảo cổ học thì vùng đồng bằng châu thổ sông Mã nói chung, huyện Hậu Lộc nói riêng nằm trong giai đoạn thứ 5 - giai đoạn duy nhất tạo thành châu thổ sông Mã hiện đại.
Đó là kết quả của đợt biển tiến Holocène giữa - muộn - kết hợp với các động lực biển như sóng và triều, chứ không phải năng lực vận chuyển bùn cát của sông Mã. Có thể thấy, châu thổ sông Mã được hình thành trên một vùng nền đã ổn định [dẫn theo 47, tr. Như vậy, Hậu Lộc vừa có những nét riêng mang tính địa phương độc đáo, vừa có những đặc điểm chung mang tính chất phổ biến, tiêu biểu cho nhiều huyện đồng bằng ven biển Thanh Hóa và Việt Nam (nhất là các huyện ven biển miền Bắc và miền Trung). Huyện Hậu Lộc chia ra làm 4 vùng cảnh quan bao gồm: vùng đồi núi phía tây, vùng đồng ruộng giữa huyện, vùng đất cát phía đông và vùng ven biển.
Trên đất liền, bờ biển của Hậu Lộc được giới hạn từ cửa Lạch Sung (cửa sông Lèn) đến Lạch Trường (cửa sông Lạch Trường) dài khoảng 12km, gần bằng 1/10 chiều dài bờ biển Thanh Hóa. Cửa Lạch Sung đang được bồi lắng mạnh, cửa Lạch Trường mở ra một vùng biển sâu hơn. Cùng với núi Trường của Hoằng Hóa, các đảo nhỏ trên vùng biển Hậu Lộc như Hòn Bò, Hòn Sụp, Hòn Nẹ tạo thành một cánh cung án ngữ sóng gió mặt phía nam và mặt phía đông, đặc biệt trong đó Hòn Nẹ, một cù lao dài gần 900m, bề ngang nơi rộng nhất 400m, cao 70,8m so với mặt nước biển, trải qua các thời kỳ lịch sử 11 đã trở thành lá chắn tiền tiêu vững chãi về quân sự, đồng thời cũng là ngọn hải đăng trên biển chỉ đường cho các đoàn tàu thuyền đánh cá ngoài khơi xa tìm về đúng bến.