CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÔNG DÂN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Trách nhiệm Khái niệm “trách nhiệm” theo từ điển tiếng Việt là “Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”, hay “ được hiểu là sự rằng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng đắn nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả”; hoặc “ là phần việc được giao cho , phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả. Và trách nhiệm là phải bảo đảm làm tròn những sự việc được giao cho.
Nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả” Nguyễn Văn Thức (2008) trong bài viết về trách nhiệm xã hội và vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và thực thi trách nhiệm xã hội. Nghiên cứu đánh giá trách nhiệm thuộc phạm trù đạo đức học và luật học, phản ánh thái độ xã hội đặc biệt và thái độ đạo đức – pháp luật của cá nhân đối với xã hội; thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật.Phạm trù trách nhiệm bao quát vấn đề triết học – xã hội học về mức độ năng lực và khả năng của cong người thể hiện ra với tư cách chủ thể (người làm ra) của những hành động của mình, cũng như những vấn đề cụ thể hơn. Trong chủ nghĩa Mác, vấn đề trách nhiệm mang tính lịch sử - cụ thể và được giải quyết trên cơ sở phân tích mức độ tự do hiện thực của con người trong những điều kiện lịch sử nhất định. Và trách nhiệm xã hội bao gồm 3 nội cơ bản: - Thứ nhất, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác 9 khoan dung với nhau trong xã hội.
- Thứ hai, sự gắn bó (đoàn kết, cố kết) giữa cá nhân với cộng đồng xã hội. - Thứ ba, trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội. Sự đóng góp này được thể hiện ở ba mức độ: tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ. Với quan niệm như vậy, trong xã hội bất kỳ ai cũng có trách nhiệm bởi mỗi người đều có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ xã hội như gia đình, dòng họ, địa phương, tập thể, tổ chức chính trị - xã hội, công dân của một nước, thành viên của cộng đồng dân tộc và rộng nhất là của nhân loại.
đặc biệt ở đây đó chính là các cơ quan, các công bộc của dân thì hai từ “ trách nhiệm”càng cần phải được hiểu rõ. Trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội (Social Responsibility) là một lý thuyết hoặc một hệ tư tưởng đạo đức nhấn mạnh đến việc một cá nhân hoặc một tổ chức phải có nghĩa vụ hành động vì lợi ích của xã hội. Trách nhiệm xã hội là một vấn đề quan trọng của cả đạo đức cá nhân lẫn đạo đức xã hội. Xét về góc độ cá nhân, ý thức về trách nhiệm xã hội không chỉ là đức hạnh, một tiêu chuẩn của luân lý mà còn là một yếu tố cấu thành nhân cách con người; thực hiện trách nhiệm xã hội là thực hiện đạo đức của con người.
Xét từ góc độ xã hội, trách nhiệm xã hội là một trong những nền tảng gắn kết các mối quan hệ xã hội, là một giá trị để đảm bảo cho quyền sống của tất cả mọi người. Ý thức về người khác, quan niệm về bổn phận đối với đất nước, nghĩa vụ đối với xã hội, lòng tốt, tính vị tha, tinh thần bao dung. là những biểu hiện cụ thể của trách nhiệm xã hội. Thực tế sự ra đời của thuật ngữ trách nhiệm xã hội (CSR) được đề cập từ đầu thế kỷ 20.
Đáng chú nhất là tác giả Bowen với tác phẩm “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” những năm 1950 được coi là bước tiên phong trong cách tiếp cận về trách nhiệm xã hội. Bowen đã định nghĩa “nghĩa vụ của doanh nhân để theo đuổi các chính sách ra các quyết định hoặc thực hiện chuỗi các hoạt động được xã hội mong đợi xét về mục tiêu và giá trị” (trích 10 trong Carroll,1979). Trong tác phẩm của mình, Bowen đã tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không nên làm tổn hại đến quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi sự bồi hoàn khi các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Một số học giả cho rằng “CSR liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội” (Davis, 1960, Eells, Walton, 1961). Năm 1973, Keith Davis đưa ra định nghĩa mới: “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ”, với khái niệm này ông đã phát triển mô hình với 5 đề xuất, mô tả lý do, cách thức và nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải tuân thủ để có các hành động bảo vệ và cải thiện sự phồn thịnh của xã hội cũng như của doanh nghiệp. Tuy nhiên mô hình này còn khá mô hồ làm cho các doanh nghiệp khó thực hiện. Theo Sethi (1975), “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến”( Sethi S.
Còn Carroll (1979) sau khi chỉ ra vai trò chủ yếu của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận bằng cách bán sản phẩm và dịch vụ cho xã hội khẳng định “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Sethi S. Theo Caroll, (2010), CSR có thể bao hàm chuẩn mực mà các bên liên quan bên trong và bên ngoài coi là đúng đắn và công bằng, hưởng ứng lại sự mong đợi của xã hội về quyền công dân hoặc bao gồm các chương trình đang hoạt động nhằm thúc đẩy phúc lợi và thiện chí của con người. và theo quan điểm tương tự, một định nghĩa được sử dụng “ một cam kết để cải thiện phúc lợi xã hội thông qua thực tiễn kinh doanh tự chủ và đóng góp từ các nguồn tài 11 nguyên của công ty” (Du, et al. 8; Kotler& Lee, 2005: Mackey, et al, 2007; McWWilliams & Siegel, 2000; Waddock & Graves, 1997).
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về trách nhiệm xã hội, trong số đó, mô hình “Kim tự tháp” của A.Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất.1: Mô hình kim tự tháp CSR Theo mô hình Carroll thì trách nhiệm xã hội có 04 khía cạnh cơ bản sau: Một là, khía cạnh về kinh tế: Việc doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận là điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển kèm theo đó là mức trả lương cho nhân viên cũng được ổn định, tương xứng với công lao họ đóng góp cho doanh nghiệp. Chính điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có những hình thức khen thưởng cho nhân viên tạo động lực cho họ cống hiến hết mình vì doanh nghiệp, có một môi trường làm việc đầy đủ. Trong khi đó, đối với cơ quan công quyền thì trách nhiệm về kinh tế chính là việc tạo công ăn việc làm ổn định, điều kiện làm việc tốt và được nâng cao trình độ, chuyên 12 môn phục vụ cho chính công việc của họ. Hai là, khía cạnh về pháp lý: Trong trách nhiệm xã hội thì khía cạnh pháp lý là việc doanh nghiệp phải thực hiện các Luật do Nhà nước quy định đối với các bên liên quan.
Doanh nghiệp phải đảm bảo các quyền lợi hợp pháp cho nhân viên bao gồm một môi trường lao động an toàn, tạo điều kiện cho nhân viên phát triển không tiêu cực, tham nhũng, hối lộ mua chức quyền, nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ, an toàn và bình đẳng, khuyến khích phát triển và ngăn chặn hành vi sai trái. Ba là, khía cạnh đạo đức: Ngoài chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công quyền là thực thi các nhiệm vụ được giao thì đối với ủy ban nhân dân khía cạnh đạo đức chính là cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ và phải tuân thủ các quy định về văn hóa công sở và văn hóa giao tiếp với nhân dân Bốn là, khía cạnh nhân văn: Thường xuyên có sự quan têm đến đời sống vật chất tinh thần của nhân viên, của công dân trên địa bàn bảo đảm các chế độ chính sách ưu đãi đến các đối tượng được hưởng. Maignan và Ferrell (2004) đưa ra một khái niệm súc tích về CSR: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan” (Maignan, I. Tuy nhiên trên thực tế, CSR là một phạm trù rộng và được hiểu và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.
Năm 2003, khái niệm CSR do Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất. Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội” 13 (World Bank, 2003). Như vậy, có thể thấy CSR là một phạm trù phức tạp và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, dù cách thể hiện hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau song nội hàm phản ánh của CSR về cơ bản đều có điểm chung là bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững - một yêu cầu khách quan cấp thiết có tính toàn cầu của sự phát triển hiện nay.