Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người Chương 3: Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của luận án 1.
Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - TNXH của DN (Corporate Social Responsibility) được biết đến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hiện nay. Theo hiểu biết chung, các doanh nghiệp hiện đại có trách nhiệm với xã hội vượt quá nghĩa vụ của họ đối với cổ đông hoặc nhà đầu tư trong công ty để thiết lập một định nghĩa rõ ràng đã thỏa thuận. Mặc dù nó không phải là một khái niệm mới, TNXH của DN vẫn là một ý tưởng mới, khó nắm bắt đối với các học giả, và là vấn đề gây tranh cãi cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các bên liên quan của họ do phạm vi của các định nghĩa rất rộng và cách sử dụng thuật ngữ khác nhau. Đề cập nhiều đến khái niệm về TNXH của DN phải kể đến một số tác giả sau: Freeman [64]; Crane và Matten [56]; Welford [103]; Habisch và Jonker [65].
Tuy nhiên, khái niệm về TNXH của DN được xem là xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1950 (Carroll [52]; Freeman [64]; Carroll và Beiler [50]; Sturdivant [95]). “Social Responsibilities of the Businessman” (1953) (Trách nhiệm xã hội của doanh nhân) của Bowen, H.R là cuốn sách mà trong đó Bowen lần đầu tiên đưa ra khái niệm về trách nhiệm xã hội nhằm mục đích tuyên truyền người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác và kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Định nghĩa của Bowen tạo ra một cuộc thảo luận sâu sắc về TNXH của DN trong nửa đầu thế kỷ 20. Trong cuốn A Three Dimensional Conceptual Model of Corporate Performance (1979) - (Mô hình khái niệm ba chiều về hiệu suất xã hội doanh nghiệp) của Carroll, A.B đưa ra mô hình khái niệm trong đó mô tả toàn diện các khía cạnh thiết yếu của hoạt động xã hội của doanh nghiệp, đồng thời, giải đáp các câu hỏi: (1) TNXH của DN bao gồm những thành phần nào? (2) Tổ chức phải giải quyết các vấn đề xã hội như thế nào (3) Mô hình của tổ chức đáp ứng xã hội là gì? Trong cuốn Measuring Corporate Social Responsibility: A Scale Development Study (Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nghiên cứu quy mô phát triển) (2008), Duygu Turker phân tích nguồn gốc, giá trị, và sự đo lường đáng tin 8 cậy của TNXH của DN, cho rằng nó phản ánh trách nhiệm của một doanh nghiệp với các bên liên quan khác nhau.
Trong ấn phẩm này, dữ liệu được thu thập từ 269 chuyên gia kinh doanh làm việc tại Thổ Nhĩ Kỳ. Các kết quả phân tích cung cấp một cấu trúc bốn chiều của TNXH của DN, bao gồm cả trách nhiệm xã hội cho các bên liên quan, nhân viên, khách hàng, và chính phủ [57]. Sean Valentine, Gary Fleischman trong cuốn Ethics Programs, Perceived Corporate Social Responsibility and Job Satisfaction (Chương trình đạo đức, Nhận thức trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và sự hài lòng về công việc) (2007) đã sử dụng thông tin khảo sát thu thập từ 313 chuyên gia kinh doanh để rút ra nhận định xem TNXH của DN là trung gian hòa giải các mối quan hệ tích cực giữa luật đạo đức và việc làm hài lòng các chủ thể liên quan. Kết quả chỉ ra rằng TNXH của DN hoàn toàn hoặc một phần làm trung gian tích cực liên kết giữa bốn biến của chương trình đạo đức và sự hài lòng công việc cá nhân, cho thấy rằng các công ty có thể tốt hơn nếu quản lý nhận thức đạo đức của nhân viên.
[94] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều cách hiểu khác nhau về TNXH của DN nhưng đều có điểm chung là xem TNXH của DN không chỉ vì lợi ích kinh tế mà hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, vì cộng đồng, vì xã hội. Tiêu biểu theo hướng này là Nguyễn Đình Cung, & Lưu Minh Đức (2009), trong cuốn “Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” [5]; Hoàng Long, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Động lực cho sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007 [18]. Các tác giả này đã chứng minh tầm quan trọng của TNXH của DN với sự phát triển của doanh nghiệp trong xã hội. Cũng theo hướng này, khi bàn về vấn đề đạo đức và kinh doanh, tác giả Hồng Minh,“Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007, đã cho rằng: đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh.
Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt [19]. Nguyễn Mạnh Quân, trong Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hội (2004) đưa ra quan niệm: đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp. [19] 9 Tại một nghiên cứu khác, GS.Phạm Văn Đức (2010) trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách”, Tạp chí Triết học số 2 [6] cho rằng, ở Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu theo định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân thuộc Ngân hàng thế giới.
Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam k t của doanh nghiệp đ ng g p vào việc phát triển kinh t bền v ng, thông qua nh ng hoạt động nh m nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đ nh họ, cho cộng đ ng và toàn xã hội, theo cách c lợi cho cả doanh nghiệp c ng như phát triển chung của xã hội” Tác giả cũng đã cụ thể hóa đã cụ thể hóa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thành bốn yếu tố cấu thành, bao gồm sự bảo vệ môi trường, sự đóng góp cho cộng đồng xã hội, sự thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp, sự bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; sự quan hệ tốt với người lao động và sự đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp. Nghiên cứu về nh ng tiêu chuẩn quốc t và kinh nghiệm quốc gia về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người Nghiên cứu về những tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm quốc gia về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN có thể được chia thành ba nhóm khác nhau: Nh m thứ nhất bao gồm các tài liệu tập trung vào đạo đức, triết học, chính trị và luật pháp. Số lượng nghiên cứu, quan điểm, tài liệu về các vấn đề này rất phong phú. Vì lý do này, tác giả chỉ chọn lọc đưa vào một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu cho luận án này như: Dworkin [58], Pogge [96], Mouffe [54].
Nh m thứ hai bao gồm các tài liệu về TNXH của DN nói chung và TNXH của DN và QCN. Trong nhóm này, mặc dù phần lớn tài liệu TNXH của DN nói chung cho đến nay hướng nhiều hơn đến các vấn đề môi trường hơn là các chi tiết cụ thể về QCN. Điều quan trọng cần đề cập trong lĩnh vực này tiêu biểu nhất là của Tiến sĩ Ruggie thực hiện trong nhiệm kỳ của ông là “Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký LHQ về vấn đề nhân quyền và các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác”; tài liệu nghiên cứu bao gồm hàng nghìn trang có trên cổng thông tin điện tử: www. Bên cạnh đó, một nhóm nghiên cứu tiêu biểu khác do Clapham thực hiện trong cuốn sách “Nghĩa vụ nhân quyền của các tác nhân phi nhà nước” Clapham lập luận về trách nhiệm giải trình nhân quyền rộng hơn so với giả định trước đây rằng nhân quyền là mối quan tâm 10 duy nhất của các quốc gia.
Cuốn sách này cần phải được cập nhật thêm sau khi ban hành Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, nghiên cứu của Clapham vẫn cung cấp các quan sát rất phù hợp về các khía cạnh chung hơn và cũng bao gồm các quan sát có giá trị liên quan đến hệ thống Đầu mối liên hệ quốc gia (NCP) do OECD thực hiện. Nghiên cứu gần đây và rất toàn diện nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến TNXH của DN và QCN đã được Amao đưa ra trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Quyền con người và Pháp luật; Các tập đoàn đa quốc gia ở các nước đang phát triển” xuất bản năm 2011. Cuốn sách của Amao là một nỗ lực ấn tượng để giải quyết mối quan hệ giữa TNXH của DN và QCN từ góc độ pháp lý, nhưng cũng để phân tích kỹ lưỡng hơn về nền tảng học thuyết TNXH của DN cũng như cung cấp các nghiên cứu điển hình có liên quan.
Luận điểm của Amao là TNXH của DN sẽ không bao giờ có hiệu lực như một quy phạm pháp luật trừ khi các cơ chế pháp lý cũng được áp dụng ở cấp quốc gia [46]. Đáng chú ý là mặc dù xuất bản gần đây, cuốn sách của Amao không tính đến những phát triển mới liên quan đến Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc và sửa đổi hướng dẫn của OECD. Liên quan đến hệ thống Đầu mối liên hệ Quốc gia (NCP), các báo cáo có giá trị cũng đã được OECD theo dõi và hình thành một mạng lưới dân sự xã hội phát hành trong suốt nhiều năm nhằm kiểm tra các hướng dẫn của OECD. Công việc của OECD đã được sử dụng làm nguồn cung cấp thông tin về quan điểm của xã hội dân sự quốc tế đối với toàn bộ hệ thống NCP.