Luận án tiến sĩ luật học trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở việt nam hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
156
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về đề tài luận án

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

2.2. Tiêu chí đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

2.3. Điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động

3.2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực môi trường

3.3. Đánh giá chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Quan điểm tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

4.2. Giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án

Chương này tập trung phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXH của DN)quyền con người (QCN) tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khái niệm, đặc điểm và vai trò của TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể. Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được đặt ra nhằm làm rõ mối quan hệ giữa TNXH của DN và QCN, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện TNXH của DN tại Việt Nam.

1.1. Tình hình nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của TNXH của DN

Các nghiên cứu về TNXH của DN bắt đầu từ những năm 1950, với các tác giả như Bowen, Carroll và Freeman. Bowen (1953) định nghĩa TNXH của DN là trách nhiệm của doanh nhân trong việc không làm tổn hại đến quyền lợi của người khác. Carroll (1979) phát triển mô hình ba chiều về hiệu suất xã hội của doanh nghiệp, bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Cung và Hoàng Long cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của TNXH của DN trong việc phát triển bền vững và đóng góp cho xã hội.

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về TNXH của DN, nhưng các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào khía cạnh lý thuyết mà chưa đi sâu vào thực tiễn tại Việt Nam. Các nghiên cứu cũng chưa đánh giá đầy đủ về tác động của TNXH của DN đến QCN, đặc biệt là trong các lĩnh vực lao động và môi trường. Điều này tạo ra nhu cầu cấp thiết cho việc nghiên cứu sâu hơn về thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể.

II. Những vấn đề lý luận về TNXH của DN trong bảo đảm QCN

Chương này làm rõ các khía cạnh lý luận cơ bản về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của TNXH của DN được phân tích chi tiết, cùng với các tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng. Các quy định pháp luật liên quan đến TNXH của DN cũng được xem xét, đặc biệt là trong các lĩnh vực lao động và môi trường.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của TNXH của DN

TNXH của DN được định nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, vượt ra ngoài lợi ích kinh tế. Nó bao gồm các khía cạnh như trách nhiệm pháp lý, đạo đức và từ thiện. Đặc điểm chính của TNXH của DN là tính tự nguyện và sự cam kết đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội. Các yếu tố ảnh hưởng đến TNXH của DN bao gồm văn hóa doanh nghiệp, áp lực từ các bên liên quan và quy định pháp luật.

2.2. Tiêu chí đánh giá TNXH của DN

Các tiêu chí đánh giá TNXH của DN bao gồm mức độ tuân thủ pháp luật, đóng góp cho cộng đồng, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền lợi của người lao động. Các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 26000 và SA8000 cũng được sử dụng làm tham chiếu. Tại Việt Nam, các tiêu chí này cần được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và pháp luật hiện hành.

III. Thực trạng TNXH của DN trong bảo đảm QCN tại Việt Nam

Chương này phân tích thực trạng TNXH của DN tại Việt Nam, tập trung vào hai lĩnh vực chính: lao động và môi trường. Các vấn đề như vi phạm quyền lao động, ô nhiễm môi trường và thiếu sự giám sát từ nhà nước được đề cập chi tiết. Đồng thời, các ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện TNXH của DN cũng được đánh giá.

3.1. Thực trạng trong lĩnh vực lao động

Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ TNXH của DN trong việc bảo đảm quyền lợi của người lao động. Các vấn đề như lương thấp, điều kiện làm việc không an toàn và sử dụng lao động trẻ em vẫn còn phổ biến. Mặc dù đã có các quy định pháp luật, nhưng việc thực thi vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng vi phạm QCN nghiêm trọng.

3.2. Thực trạng trong lĩnh vực môi trường

Các doanh nghiệp tại Việt Nam thường xuyên bị chỉ trích vì gây ô nhiễm môi trường. Việc xử lý chất thải không đúng quy định và khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi là những vấn đề nổi cộm. Mặc dù đã có các chính sách và quy định về bảo vệ môi trường, nhưng hiệu quả thực thi vẫn còn hạn chế, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ hơn từ nhà nước.

IV. Giải pháp tăng cường TNXH của DN trong bảo đảm QCN

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN tại Việt Nam. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện pháp luật, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và tăng cường giám sát từ nhà nước. Đồng thời, các kinh nghiệm quốc tế cũng được tham khảo để áp dụng phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

4.1. Hoàn thiện pháp luật và chính sách

Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến TNXH của DN, đặc biệt là trong các lĩnh vực lao động và môi trường. Các quy định cần rõ ràng, cụ thể và có tính khả thi cao. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện TNXH của DN, như ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ tài chính.

4.2. Nâng cao nhận thức và đào tạo

Việc nâng cao nhận thức về TNXH của DN cần được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo và tuyên truyền. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ lợi ích của việc thực hiện TNXH của DN đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội. Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm người lao động, khách hàng và cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người Chương 3: Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của luận án 1.

Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - TNXH của DN (Corporate Social Responsibility) được biết đến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hiện nay. Theo hiểu biết chung, các doanh nghiệp hiện đại có trách nhiệm với xã hội vượt quá nghĩa vụ của họ đối với cổ đông hoặc nhà đầu tư trong công ty để thiết lập một định nghĩa rõ ràng đã thỏa thuận. Mặc dù nó không phải là một khái niệm mới, TNXH của DN vẫn là một ý tưởng mới, khó nắm bắt đối với các học giả, và là vấn đề gây tranh cãi cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các bên liên quan của họ do phạm vi của các định nghĩa rất rộng và cách sử dụng thuật ngữ khác nhau. Đề cập nhiều đến khái niệm về TNXH của DN phải kể đến một số tác giả sau: Freeman [64]; Crane và Matten [56]; Welford [103]; Habisch và Jonker [65].

Tuy nhiên, khái niệm về TNXH của DN được xem là xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1950 (Carroll [52]; Freeman [64]; Carroll và Beiler [50]; Sturdivant [95]). “Social Responsibilities of the Businessman” (1953) (Trách nhiệm xã hội của doanh nhân) của Bowen, H.R là cuốn sách mà trong đó Bowen lần đầu tiên đưa ra khái niệm về trách nhiệm xã hội nhằm mục đích tuyên truyền người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác và kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Định nghĩa của Bowen tạo ra một cuộc thảo luận sâu sắc về TNXH của DN trong nửa đầu thế kỷ 20. Trong cuốn A Three Dimensional Conceptual Model of Corporate Performance (1979) - (Mô hình khái niệm ba chiều về hiệu suất xã hội doanh nghiệp) của Carroll, A.B đưa ra mô hình khái niệm trong đó mô tả toàn diện các khía cạnh thiết yếu của hoạt động xã hội của doanh nghiệp, đồng thời, giải đáp các câu hỏi: (1) TNXH của DN bao gồm những thành phần nào? (2) Tổ chức phải giải quyết các vấn đề xã hội như thế nào (3) Mô hình của tổ chức đáp ứng xã hội là gì? Trong cuốn Measuring Corporate Social Responsibility: A Scale Development Study (Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nghiên cứu quy mô phát triển) (2008), Duygu Turker phân tích nguồn gốc, giá trị, và sự đo lường đáng tin 8 cậy của TNXH của DN, cho rằng nó phản ánh trách nhiệm của một doanh nghiệp với các bên liên quan khác nhau.

Trong ấn phẩm này, dữ liệu được thu thập từ 269 chuyên gia kinh doanh làm việc tại Thổ Nhĩ Kỳ. Các kết quả phân tích cung cấp một cấu trúc bốn chiều của TNXH của DN, bao gồm cả trách nhiệm xã hội cho các bên liên quan, nhân viên, khách hàng, và chính phủ [57]. Sean Valentine, Gary Fleischman trong cuốn Ethics Programs, Perceived Corporate Social Responsibility and Job Satisfaction (Chương trình đạo đức, Nhận thức trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và sự hài lòng về công việc) (2007) đã sử dụng thông tin khảo sát thu thập từ 313 chuyên gia kinh doanh để rút ra nhận định xem TNXH của DN là trung gian hòa giải các mối quan hệ tích cực giữa luật đạo đức và việc làm hài lòng các chủ thể liên quan. Kết quả chỉ ra rằng TNXH của DN hoàn toàn hoặc một phần làm trung gian tích cực liên kết giữa bốn biến của chương trình đạo đức và sự hài lòng công việc cá nhân, cho thấy rằng các công ty có thể tốt hơn nếu quản lý nhận thức đạo đức của nhân viên.

[94] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều cách hiểu khác nhau về TNXH của DN nhưng đều có điểm chung là xem TNXH của DN không chỉ vì lợi ích kinh tế mà hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, vì cộng đồng, vì xã hội. Tiêu biểu theo hướng này là Nguyễn Đình Cung, & Lưu Minh Đức (2009), trong cuốn “Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” [5]; Hoàng Long, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Động lực cho sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007 [18]. Các tác giả này đã chứng minh tầm quan trọng của TNXH của DN với sự phát triển của doanh nghiệp trong xã hội. Cũng theo hướng này, khi bàn về vấn đề đạo đức và kinh doanh, tác giả Hồng Minh,“Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007, đã cho rằng: đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh.

Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt [19]. Nguyễn Mạnh Quân, trong Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hội (2004) đưa ra quan niệm: đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp. [19] 9 Tại một nghiên cứu khác, GS.Phạm Văn Đức (2010) trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách”, Tạp chí Triết học số 2 [6] cho rằng, ở Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu theo định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân thuộc Ngân hàng thế giới.

Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam k t của doanh nghiệp đ ng g p vào việc phát triển kinh t bền v ng, thông qua nh ng hoạt động nh m nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đ nh họ, cho cộng đ ng và toàn xã hội, theo cách c lợi cho cả doanh nghiệp c ng như phát triển chung của xã hội” Tác giả cũng đã cụ thể hóa đã cụ thể hóa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thành bốn yếu tố cấu thành, bao gồm sự bảo vệ môi trường, sự đóng góp cho cộng đồng xã hội, sự thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp, sự bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; sự quan hệ tốt với người lao động và sự đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp. Nghiên cứu về nh ng tiêu chuẩn quốc t và kinh nghiệm quốc gia về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người Nghiên cứu về những tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm quốc gia về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN có thể được chia thành ba nhóm khác nhau: Nh m thứ nhất bao gồm các tài liệu tập trung vào đạo đức, triết học, chính trị và luật pháp. Số lượng nghiên cứu, quan điểm, tài liệu về các vấn đề này rất phong phú. Vì lý do này, tác giả chỉ chọn lọc đưa vào một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu cho luận án này như: Dworkin [58], Pogge [96], Mouffe [54].

Nh m thứ hai bao gồm các tài liệu về TNXH của DN nói chung và TNXH của DN và QCN. Trong nhóm này, mặc dù phần lớn tài liệu TNXH của DN nói chung cho đến nay hướng nhiều hơn đến các vấn đề môi trường hơn là các chi tiết cụ thể về QCN. Điều quan trọng cần đề cập trong lĩnh vực này tiêu biểu nhất là của Tiến sĩ Ruggie thực hiện trong nhiệm kỳ của ông là “Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký LHQ về vấn đề nhân quyền và các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác”; tài liệu nghiên cứu bao gồm hàng nghìn trang có trên cổng thông tin điện tử: www. Bên cạnh đó, một nhóm nghiên cứu tiêu biểu khác do Clapham thực hiện trong cuốn sách “Nghĩa vụ nhân quyền của các tác nhân phi nhà nước” Clapham lập luận về trách nhiệm giải trình nhân quyền rộng hơn so với giả định trước đây rằng nhân quyền là mối quan tâm 10 duy nhất của các quốc gia.

Cuốn sách này cần phải được cập nhật thêm sau khi ban hành Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, nghiên cứu của Clapham vẫn cung cấp các quan sát rất phù hợp về các khía cạnh chung hơn và cũng bao gồm các quan sát có giá trị liên quan đến hệ thống Đầu mối liên hệ quốc gia (NCP) do OECD thực hiện. Nghiên cứu gần đây và rất toàn diện nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến TNXH của DN và QCN đã được Amao đưa ra trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Quyền con người và Pháp luật; Các tập đoàn đa quốc gia ở các nước đang phát triển” xuất bản năm 2011. Cuốn sách của Amao là một nỗ lực ấn tượng để giải quyết mối quan hệ giữa TNXH của DN và QCN từ góc độ pháp lý, nhưng cũng để phân tích kỹ lưỡng hơn về nền tảng học thuyết TNXH của DN cũng như cung cấp các nghiên cứu điển hình có liên quan.

Luận điểm của Amao là TNXH của DN sẽ không bao giờ có hiệu lực như một quy phạm pháp luật trừ khi các cơ chế pháp lý cũng được áp dụng ở cấp quốc gia [46]. Đáng chú ý là mặc dù xuất bản gần đây, cuốn sách của Amao không tính đến những phát triển mới liên quan đến Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc và sửa đổi hướng dẫn của OECD. Liên quan đến hệ thống Đầu mối liên hệ Quốc gia (NCP), các báo cáo có giá trị cũng đã được OECD theo dõi và hình thành một mạng lưới dân sự xã hội phát hành trong suốt nhiều năm nhằm kiểm tra các hướng dẫn của OECD. Công việc của OECD đã được sử dụng làm nguồn cung cấp thông tin về quan điểm của xã hội dân sự quốc tế đối với toàn bộ hệ thống NCP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người tại Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Tác giả nhấn mạnh rằng trách nhiệm xã hội không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý mà còn là một yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức doanh nghiệp có thể tích cực tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và cộng đồng, từ đó tạo ra giá trị không chỉ cho chính doanh nghiệp mà còn cho xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về trách nhiệm xã hội và các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh huế, nơi cung cấp cái nhìn cụ thể về trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực ngân hàng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ pháp luật về góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố pháp lý liên quan đến đầu tư và trách nhiệm xã hội. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ thông lệ về quản trị công ty của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế oecd nghiên cứu áp dụng vào công ty cổ phần ở việt nam sẽ cung cấp thêm thông tin về quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội trong bối cảnh toàn cầu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam.