đặt vấn đề đạo đức của công ty vào sản phẩm họ sản xuất và cung cấp trên thị trường là mối quan tâm chính, thì người lao động lại xem trách nhiệm thực thi pháp luật của công ty đối với họ lại là vấn đề thiết yếu để bảo vệ quyền 15 và lợi ích của chính bản thân cũng như gia đình của họ. Đối với cộng đồng, luôn đề cao các hoạt động tham gia từ thiện của các công ty, doanh nghiệp thông qua các hoạt động như bảo vệ môi trường, đóng góp, ủng hộ, tài trợ, quyên góp, giúp đỡ các đối tượng gặp khó khăn, thiên tai.v… là vấn đề quan trọng bởi vì ngoài trách nhiệm với cơ quan chủ quản thông qua việc đóng thuế thì các công ty, doanh nghiệp cũng cần có trách nhiệm với cộng đồng xung quanh nơi họ đặt cơ sở hạ tằng để thực hiện các hoat động sản xuất kinh doanh. Cuối cùng, các cơ quan chủ quản, họ xem cả bốn trách nhiệm trên đều quan trọng và thiết yếu mà bất kỳ một công ty, một doanh nghiệp hay một bên liên quan nào cũng cần có để đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội. Tiếp cận chuỗi giá trị Theo cách tiếp cận này, Michael Porter và Kramer (2006) và các nhà nghiên cứu đã xây dựng chiến lược thực hiện trách nhiệm xã hội gắn liền với những yêu cầu thực thi trách nhiệm xã hội bắt buộc và tự nguyện.
Nó có thể trở thành một bộ phận trong chiến lược của tổ chức nếu tổ chức thực sự quan tâm, hiểu được vai trò của trách nhiệm xã hội trong thực hiện các mục tiêu của mình.2: Cách tiếp cận chuỗi giá trị Chuỗi giá trị Các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội Các hoạt động hỗ trợ Cơ sở hạ tầng (các mối quan hệ Thực hành các báo cáo tài chính trung thực; Đảm về tài chính, kế hoạch, đầu tư) bảo sự minh bạch hóa; Thúc đẩy thay đổi chính sách;… Quản trị nguồn nhân lực (tuyển Đào tạo và tập huấn công việc cho người lao động; dụng, đào tạo, hệ thống đãi Đảm bảo điều kiện làm việc an toàn; Đánh giá đúng ngộ,.) sự đa dạng và phân biệt hóa; Quan tâm chăm sóc sức khỏe và các lợi ích khác; Có chế độ đãi ngộ đối với người lao động; Có chế độ khi người lao động nghỉ việc,;… Phát triển công nghệ (thiết kế Duy trì các mối quan hệ với các cơ sở đào tạo; sản phẩm, thiết kế quy trình, Nghiên cứu về các giá trị đạo đức; Sản xuất các nghiên cứu vật tư, nghiên cứu sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng; Sử dụng các thị trường,…) nguồn nguyên liệu bền vững; Sử dụng các nguồn nguyên liệu và sản xuất các sản phẩm tái chế. Mua sắm (vật tư , máy móc, Mua sắm và thực hiện chuỗi cung ứng sạch (tránh dịch vụ ngoài) các vấn đề liên quan đến hành vi bất minh trong mua bán, sử dụng các lao động trẻ em,…); Sử dụng các nguồn nguyên liệu đặc biệt (lông thú,.); Tối đa 16 hóa nguồn lực tự nhiên Tác nghiệp trực tiếp Logistic mua (nhập kho nguyên Ảnh hưởng của việc vận chuyển (hiệu ứng nhà kính, liệu và quản lý kho, cơ sở dữ tắc nghẽn đường…) liệu, dịch vụ,. Đo lường trách nhiệm xã hội (CSR) Các tài liệu trách nhiệm xã hội cho thấy có nhiều thách thức trong việc đo lường hiệu quả xã hội của công ty (Graves và Waddock, 1994). Trong thực tế, do các định nghĩa khác nhau về trách nhiệm xã hội nên thiếu sự đồng thuận trong cách đo trách nhiệm xã hội.
Abbott và Monsen (1979) nói rằng có hai khó khăn cơ bản trong việc đo lường trách nhiệm xã hội liên quan đến mục đích nghiên cứu. Việc đầu tiên trong số này là việc thiếu thông tin định lượng về các hoạt động xã hội. Để khắc phục điều này, họ cho rằng đối với mục đích nghiên cứu các hoạt động trách nhiệm xã hội phải được đo và được báo cáo thống nhất thông qua phân tích thống kê bởi một số lượng lớn các công ty. Khó khăn thứ hai là phát triển một phương pháp phù hợp để đo lường toàn bộ tác động của các hoạt động xã hội của công ty lên phạm vi xã hội rộng lớn hơn.
Nhiều học giả đã đo trách nhiệm xã hội theo những cách khác nhau. Griffin và Mahon (1997) nghiên cứu mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính 17 khi sử dụng một thước đo duy nhất của hiệu quả xã hội - ô nhiễm môi trường. Ví dụ khác về các thước đo khác nhau của trách nhiệm xã hội bao gồm sử dụng xếp hạng tài chính và các chỉ số được phát triển như: KLD Kinder, Lydenberg, Domini và Co (Waddock và Graves 1997), trong đó điều tra một loạt các nguồn và sử dụng các tiêu chí định lượng để xác định các giá trị phù hợp; Vigeo của Châu Âu (Vermeir và cộng sự, 2005); cơ sở dữ liệu đầu tư xã hội Canada (Canadian Social Investment Database - CSID) (Mahoney và Roberts 2007); bộ dữ liệu doanh nghiệp Monitor CSP cho các công ty Úc (Kristoffersen và cộng sự, 2005); Toxics Release Inventory (TRI), trong đó chỉ tập trung vào một vài ngành công nghiệp; công dân doanh nghiệp tốt (Best Corporate Citizens). Gần đây, STRING Consultants đã phát triển một chỉ số CSR cho các công ty Sri Lanka (Anthonisz, 2011).
Saleh và cộng sự (2008) giải thích rằng những đánh giá được "dựa trên tỷ trọng bằng nhau của bảy tiêu chí. Bảy tiêu chí bao gồm lợi nhuận trung bình của cổ đông trong ba năm và điểm trung bình trên sáu thước đo hiệu quả xã hội được báo cáo bởi một công ty nghiên cứu đầu tư xã hội đáng tin cậy" (Murphy và Poist 2002, trang 6). Hiện nay, nhiều hệ thống đo lường trách nhiệm xã hội được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu. Các hệ thống đo lường được biết như là các chỉ số chủ quan.
Các chỉ số đầu tiên là khảo sát của sinh viên kinh doanh (Heinz, 1976), giảng viên kinh doanh (Moskowitz, 1972) hoặc thậm chí các bảng xếp hạng tài sản (McGuire và cộng sự, 1988). Các nghiên cứu khác đã sử dụng công cụ điều tra buộc phải lựa chọn (Aupperle và cộng sự, 1985; Aupperle, 1991), chỉ số uy tín của công ty (McGuire và cộng sự, 1988.) và phân tích nội dung của văn bản (Wolfe, 1991) như các công cụ đo lường trong nghiên cứu trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, một số chỉ số trách nhiệm xã hội khác nhau cũng có sẵn (Hopkins 2005) chẳng hạn như các chỉ số cộng đồng doanh nghiệp (Business in the Community - BITC), chỉ số FTSE4Good, chỉ số Bền vững Dow Jones (Dow Jones Sustainability Index - DJSI), đạo đức kinh doanh 100, xếp hạng trách nhiệm (AA), báo cáo Sáng kiến toàn cầu (GRI) và chỉ số KLD (Graves và Waddock, 1994). Thật không may, các phép đo trách nhiệm xã hội sử dụng thông thường không thể áp dụng trực tiếp vào các nghiên cứu của các nước đang phát triển (Hopkins, 2005) bởi vì các thước đo này dựa trên các công ty của các nước phát triển (Fortune 500 công ty) và các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội quốc tế (Pháp luật Lao động Quốc tế).
18 Do đó, các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển thường sử dụng dữ liệu thứ cấp để đo hiệu quả trách nhiệm xã hội từ các cuộc điều tra khác nhau. Theo Ghauri và Gronhaug, (2005) - "Dữ liệu thứ cấp là hữu ích không chỉ để tìm thông tin để giải quyết vấn đề nghiên cứu mà còn để hiểu rõ hơn và giải thích vấn đề nghiên cứu của chúng tôi". Ngược lại với các xếp hạng tài chính, dữ liệu thứ cấp cung cấp một cách tiếp cận bổ sung cho trách nhiệm xã hội vì chúng đều được dựa trên các hoạt động thực tế của công ty mà không có sự đánh giá từ các cơ quan khác. Do đó, thước đo phổ biến nhất đối với trách nhiệm xã hội sẽ là chỉ số trách nhiệm xã hội, được trích xuất từ các dữ liệu thứ cấp.
Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp để định lượng chỉ số trách nhiệm xã hội bằng cách sử dụng báo cáo thường niên và báo cáo bền vững thông qua phương pháp phân tích nội dung. Tại sao phải đầu tư cho trách nhiệm xã hội (CSR)? Khái niệm trách nhiệm xã hội đang phát triển liên tục do sự tương tác với những ảnh hưởng bên trong và bên ngoài. Silberhorn và Warren (2007) cho rằng khái niệm trách nhiệm xã hội phát triển để đáp ứng với sự tương tác giữa các giá trị tổ chức và ảnh hưởng bên ngoài. Các giá trị quan trọng của một tổ chức có thể được mô tả như là tài nguyên, văn hóa và cấu trúc của nó (Wheelen và Hunger, 2002).
Một số nghiên cứu đã đề xuất rằng mặc dù các yếu tố bên trong đã được thảo luận ở trên, các tổ chức chủ yếu phản ứng đối với trách nhiệm xã hội từ áp lực bên ngoài chứ không phải bên trong để xác định trách nhiệm xã hội (L'Etang, 1994; Vogel, 2005). Ví dụ, trong môi trường xã hội và kinh doanh hiện tại, có một nhu cầu ngày càng tăng của công chúng đối với các nhà lãnh đạo của tổ chức bao gồm các vấn đề xã hội như là một phần trong chiến lược của họ (Lantos, 2001). Các nhà quản lý thường xuyên phải chịu áp lực từ các bên liên quan khác nhau trong việc phân bổ nguồn lực tài chính cho các hoạt động trách nhiệm xã hội. Các áp lực đến từ các bên liên quan như: người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng và các nhóm môi trường (McWilliams và Siegel 2001) được thảo luận dưới đây: 2.
Áp lực từ người lao động Những áp lực từ các nhân viên được thảo luận bởi Musah (2008) bao gồm sự nhìn nhận ngày càng tăng của công chúng về các quyền lợi nhất định của nhân viên tại nơi làm việc, không phân biệt đối xử trong tuyển dụng, sa thải và thăng cấp. Matten và Moon (2008) cho rằng trách nhiệm xã hội đã giải quyết rõ ràng các vấn đề như tiền 19 lương công bằng, giờ và điều kiện làm việc, chăm sóc sức khỏe, dự phòng và bảo vệ chống lại sa thải bất công. Các ví dụ quan trọng khác về áp lực từ người lao động được xem như là chỉ số uy tín của trách nhiệm xã hội (KLD). Các khía cạnh bao gồm các vấn đề tại nơi làm việc và “nhân viên là quan hệ lao động”, quyền lợi nhân viên và nhân viên tham gia.
KLD sử dụng các vấn đề về người lao động cho mục đích đo lường trách nhiệm xã hội (Graves và Waddock, 1994; Sharfman, 1996; Turban và Greening, 1997).