Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM 1. Những vấn đề lý luận về tội tàng trữ, vận chuyển hành cấm 1. Khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển hành cấm - Khái niệm hàng cấm Hàng cấm được rất nhiều người sử dụng trong đời sống kinh tế. Tuy nhiên, hiểu một cách chính xác về bản chất của từ này trong khoa học pháp luật hình sự thì chưa có cách hiểu và giải thích thống nhất.
Để tìm hiểu khái niệm hàng cấm chúng ta tìm hiểu thông qua ngữ nghĩa của hai từ cụ thể: - “hàng” là sản phẩm để bán, - “cấm” là không cho phép làm việc gì đó hoặc không cho phép tồn tại [54]. Từ đó hàng cấm được hiểu là những sản phẩm không cho phép tồn tại. Theo từ điển Luật học giải thích: “hàng cấm là hàng hoá bị Nhà nước cấm kinh doanh [54, tr. Một số từ điển hoặc các văn bản có liên quan có đề cập đến hàng cấm là hàng hóa mà Nhà nước cấm buôn bán, kinh doanh [55, tr.
Hàng cấm còn được nhắc đến trong giải thích tội buôn lậu: buôn lậu là buôn bán trốn thuế hoặc hàng cấm [56]. Tuy được nhắc đến nhiều nhưng chưa có cách hiểu thống nhất về thuật ngữ này. Hiện nay, nhiều tác giả đồng tình với cách giải thích: Hàng cấm là hàng hoá Nhà nước cấm kinh doanh [15, tr. Hàng cấm theo nghĩa rộng là loại hàng hoá bị cấm kinh doanh dưới mọi hình thức.
Bản chất của hàng cấm có thể được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ xã hội, hàng cấm được hiểu phổ biến nhất là những mặt hàng đặc biệt do Nhà nước trực tiếp quản lý độc quyền, cấm sản xuất, kinh doanh. Theo triết học Mác - Lê nin hàng hoá là sản phẩm của lao động thông qua hoạt động trao đổi, mua bán. Hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình mà nhờ vào tính chất của nó thoả mãn nhu cầu của con người.
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá ngày càng trở nên đa dạng phong phú. Việc quản lý đối với các loại hàng hoá và các hoạt động kinh doanh liên quan đến hàng hoá ngày càng phức tạp, khó khăn hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại hàng hoá gây ảnh hưởng xấu tới con người, 7 môi trường và xã hội. Từ sự phát triển của tự do thương mại mà Nhà nước thống nhất quản lý những mặt hàng có tính chất đặc biệt, có những đặc tính riêng cần phải hạn chế cách ly các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán những mặt hàng đó trong xã hội. Pháp luật quy định cấm tuyệt đối với những mặt hàng khi lưu thông hoặc sử dụng có thể gây nguy hại cho an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, môi trường và sức khỏe nhân dân, vì vậy Nhà nước cần phải độc quyền quản lý loại hàng hoá đó.
Trong xã hội gọi những hàng hoá này là “hàng cấm” hay “hàng quốc cấm”. Dưới góc độ kinh tế thì hàng cấm là hàng hoá nhưng thuộc loại do Nhà nước thống nhất quản lý cấm các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán. Hàng hóa và sản xuất, buôn bán hàng hóa gắn liền với hoạt động kinh doanh, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình kinh doanh như: phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Việc sản xuất hàng hóa là bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động của quá trình hoạt động kinh doanh.
Qua các thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội lượng hàng hóa sản xuất ngày một nhiều và đa dạng. Có hàng hoá được tự do sản xuất, kinh doanh; có những mặt hàng do tính chất đặc thù của nó mà Nhà nước phải cấm thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, do những lợi nhuận mà các mặt hàng này đem lại, các cá nhân, tổ chức lén lút sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Mặc dù vậy, cho đến nay khái niệm hàng cấm vẫn chưa có bất cứ văn bản pháp luật nào đưa ra một cách hiểu thống nhất.
Trong quá trình giải quyết về loại vụ việc liên quan đến hàng cấm, một vấn đề đặt ra đối với các cơ quan chức năng là phải hiểu rõ thế nào là hàng cấm và các loại hàng cấm để từ đó mới ra được những quyết định phù hợp, đúng đắn phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự kinh tế nói chung, tội phạm về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nói riêng. 8 Dưới góc độ pháp lý, hàng cấm là đối tượng đặc biệt, được Nhà nước quản lý và xử lý đối với hành vi liên quan đến nó. Trong pháp luật thương mại, đầu tư đều có quy định những đối tượng cấm hoạt động kinh doanh đầu tư và có các chế tài xử phạt đối với hành vi liên quan đến hàng cấm. Khoản 1 Điều 25 Luật thương mại xác định: “Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hoá đó”.
Đối với pháp luật về thương mại đầu tư, các nhà làm luật không định nghĩa hàng cấm là gì mà được quy định thành danh mục cụ thể những mặt hàng cấm kinh doanh. Danh mục này do Chính phủ quy định và từng thời kỳ khác nhau thì danh mục hàng hoá cấm kinh doanh cũng thay đổi. Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có giải thích: “Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam. Dưới góc độ pháp lý hình sự, hàng cấm được xác định là đối tượng của tội phạm về kinh tế, bị xem là đối tượng: “bất hợp pháp”.
Việc lưu thông và kinh doanh đối với đối tượng này ở mức độ nhất định là hành vi tội phạm, bị pháp luật hình sự nghiêm cấm. Để hiểu rõ về hàng cấm, ngoài việc xem xét khái niệm hàng hóa nói chung, chúng ta cần thiết phải tìm hiểu các văn bản pháp luật quy định về hàng cấm và dấu hiệu nhận biết hàng cấm. Tuy nhiên, cho trước khi BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được ban hành, các quy định pháp lý về hàng cấm còn chưa chỉ ra khái niệm hàng cấm và chưa quy định cụ thể dấu hiệu nhận biết đối tượng hàng cấm đã được điều chỉnh tại các điều luật khác với Điều 155 BLHS năm 1999. Điều này đã gây những khó khăn nhất định cho việc nghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức cho đúng về hàng cấm dưới góc độ pháp lý.
Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đưa ra khái niệm về hàng cấm mà hàng cấm chỉ được nhắc đến một cách chung chung. Để đưa ra 9 khái niệm đầy đủ nhất về hàng cấm dưới góc độ pháp luật hình sự cần chú ý một số nội dung cơ bản sau: một là hàng cấm là loại hàng hoá đặc biệt do nhà nước thống nhất quản lý và quy định cụ thể danh mục hàng hoá thuộc loại này. Hai là danh mục hàng cấm không cố định mà có sự thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau. Có nhiều loại hàng hoá có tính chất cấm vĩnh viễn, cũng có những hàng hoá chỉ cấm tạm thời.
Ba là hàng cấm có tác hại về kinh tế, có khả năng gây hại cho tính mạng, sức khoẻ con người và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị của mỗi quốc gia. Bốn là tuỳ thuộc vào chế độ quản lý của mỗi quốc gia mà việc quy định các mặt hàng cấm sản xuất kinh doanh khác nhau. BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có nhiều điều luật quy định hành vi phạm tội liên quan đến hàng cấm ở các chương khác nhau, là đối tượng tác động của nhiều tội phạm khác nhau như: hàng cấm là chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, văn hoá phẩm đồi truỵ.Những hàng cấm còn lại chưa quy định cụ thể ở Điều luật nào khác thì được quy định tại Điều 191 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Như vậy, diện hàng cấm nói chung rộng hơn diện hàng cấm là đối tượng tác động của Điều 191 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Nhìn nhận diện hàng cấm theo nghĩa rộng chúng ta cần nhìn nhận diện hàng cấm trên tất cả các lĩnh vực và có sự liên hệ với diện hàng cấm là đối tượng tác động của các tội phạm cụ thể về hàng cấm kể trên. Vì vậy, từ những phân tích nêu trên và thực tiễn áp dụng pháp luật chúng ta nhận thức: “Hàng cấm gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam”. - Khái niệm tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi cất giữ, chuyển dịch hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh. Tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ hàng cấm ở bất kỳ chỗ nào một cách trái phép.
Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, trong hành lý hoặc cách giấu bất kỳ một vị trí nào khác mà người tàng trữ đã chọn, không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất ra hàng cấm khác hoặc vận chuyển từ này 10 đến nơi khác. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý. Nếu tàng trữ hàng cấm cho người mà khác biết rõ người này buôn bán hàng cấm thì hành vi cất giữ hàng cấm không phải là hành vi tàng trữ mà là hành vi giúp sức người buôn bán hàng cấm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm với vai trò đồng phạm.