CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM 1. Tổng quan về Công đoàn Việt Nam 1. Công đoàn Việt Nam “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đoàn viên Điều 1 của Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI quy định:“Người lao động Việt Nam làm việc trong Cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động, Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (sau đây gọi chung là Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp); người Việt Nam lao động tự do hợp pháp không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, tín ngưỡng, tán thành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tự nguyện sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở của Công đoàn, đóng đoàn phí theo quy định thì được gia nhập Công đoàn” [21; tr.
Cán bộ Công đoàn Khoản 1 Điều 5 của Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI định nghĩa: “Cán bộ Công đoàn là người đảm nhiệm các chức danh từ Tổ phó Tổ Công đoàn trở lên 6 thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị Công đoàn các cấp bầu ra hoặc được cấp có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ Công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn ” [21; tr. Hướng dẫn số 238/HD-TLĐ ngày 04/3/2014 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tại khoản 4.1 mục 4: “Cán bộ Công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, Tổ phó Công đoàn, ủy viên Ban chấp hành Công đoàn, ủy viên Ủy ban kiểm tra Công đoàn các cấp, ủy viên các Ban quần chúng Công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử hoặc cấp Công đoàn có thẩm quyền chỉ định; cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy của tổ chức Công đoàn các cấp”. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và nguồn gốc tiền lương, có thể phân cán bộ Công đoàn thành: Thứ nhất, cán bộ Công đoàn chuyên trách Điểm a Khoản 2 Điều 5 Điều lệ Công đoàn Việt Nam: “Cán bộ Công đoàn chuyên trách là người đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức Công đoàn, được đại hội, hội nghị Công đoàn các cấp bầu ra hoặc cấp có thẩm quyền của Công đoàn bổ nhiệm, chỉ định”. Hướng dẫn số 238/HD-TLĐ ngày 04/3/2014 của Tổng LĐLĐ Việt Nam về thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tại khoản 4.2 mục 4: “Cán bộ Công đoàn chuyên trách hưởng lương từ nguồn tài chính Công đoàn do Công đoàn trực tiếp quản lý toàn diện và thực hiện chính sách cán bộ theo quy định và phân cấp của Đảng và của Tổng LĐLĐ Việt Nam” [22; tr.
Hướng dẫn số 238/HD-TLĐ ngày 04/3/2014 của Tổng LĐLĐ Việt Nam về thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tại khoản 4.2 mục 4: “Cán bộ Công đoàn chuyên trách hưởng lương từ nguồn tài chính Công đoàn do Công đoàn trực tiếp quản lý toàn diện và thực hiện chính sách cán bộ theo quy định và phân cấp của Đảng và của Tổng LĐLĐ Việt Nam” [22; tr.10], bao gồm các nhóm sau: + Nhóm thứ nhất: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp Công đoàn như Chủ 7 tịch, Phó Chủ tịch, ủy viên Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường vụ, trưởng, phó các Ban chuyên đề thuộc cơ quan Công đoàn các cấp. + Cán bộ thực hiện gồm cán bộ chuyên trách ở các cơ quan Công đoàn làm công tác phong trào, chuyên môn, nghiệp vụ tại Văn phòng, Ban Tuyên giáo, Ban Nữ công, Ban Tổ chức, Văn phòng Ủy ban kiểm tra, Ban Tài chính, Ban Chính sách - pháp luật, Ban Quan hệ lao động,. + Nhóm thứ hai: Cán bộ được bổ nhiệm vào ngạch công chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ hoặc nhân viên phục vụ trong cơ quan Công đoàn các cấp. + Nhóm thứ ba: Cán bộ giảng dạy ở các Trường Công đoàn, cán bộ nghiên cứu khoa học ở các Viện trong hệ thống Công đoàn.
+ Nhóm thứ tư: Là cán bộ quản lý đơn vị sự nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh trực thuộc Công đoàn các cấp. Thứ hai, cán bộ Công đoàn không chuyên trách “Cán bộ Công đoàn không chuyên trách là những người làm việc kiêm nhiệm, không hưởng lương từ ngân sách Công đoàn, được đoàn viên tín nhiệm bầu vào các chức danh từ Tổ phó Công đoàn trở lên và được cấp có thẩm quyền của Công đoàn công nhận hoặc chỉ định. Họ chỉ dành một khoảng thời gian nhất định cho hoạt động Công đoàn, nhằm thực hiện vai trò đại diện cho đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp theo nhiệm kỳ”. Vị trí, vai trò của Công đoàn Việt Nam 1.
Vị trí của Công đoàn Việt Nam Vị trí của Công đoàn là địa vị của Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội, là mối quan hệ của Công đoàn với các tổ chức đó. Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động. Vị trí của Công đoàn Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể công nhân, viên chức, lao động thừa nhận. 8 Mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam: Mối quan hệ giữa Công đoàn và Đảng Cộng sản trong chặng đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thể hiện: Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn , mặt khác thể hiện trách nhiệm của Công đoàn trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và tham gia xây dựng Đảng.
Công đoàn hoạt động không thể thiếu sự lãnh đạo của Đảng; là bộ phận tiên phong nhất, tích cực nhất của giai cấp công nhân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn được hình thành trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam đã tham gia tích cực trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo Công đoàn bằng đường lối, chủ trương Nghị quyết của Đại hội, Nghị quyết của cấp ủy Đảng.
Công đoàn Việt Nam với chức năng của mình triển khai đường lối, chủ trương, Nghị quyết của Đảng thành chương trình công tác của tổ chức mình. Đảng tôn trọng tính độc lập về mặt tổ chức của tổ chức Công đoàn, không can thiệp, Đảng chỉ giới thiệu những đảng viên là đoàn viên ưu tú để Công đoàn xem xét, tín nhiệm bầu vào Ban lãnh đạo Công đoàn các cấp thông qua Đại hội. Bên cạnh đó tổ chức Công đoàn có tính độc lập về mặt tổ chức: Công đoàn xây dựng tổ chức và hoạt động phù hợp với Điều lệ của tổ chức Công đoàn Việt Nam trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Công đoàn các cấp. Đảng kiểm tra Công đoàn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.
Mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Nhà nước: Mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Nhà nước là mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tôn trọng, phối hợp chặt chẽ với nhau trong các mặt hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu chung là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”. Nhà nước luôn tạo cho tổ chức Công đoàn về điều kiện vật chất, ban hành các văn bản pháp lý tạo cơ sở pháp lý cho Công đoàn hoạt động. Giữa Công đoàn và Nhà nước không có sự đối lập. Công đoàn Việt Nam luôn cộng tác đắc lực với Nhà nước, góp phần xây dựng chính quyền Nhà nước không ngừng lớn 9 mạnh.
Công đoàn là người cung cấp, bồi dưỡng, rèn luyện những cán bộ ưu tú cho Đảng và Nhà nước. Vai trò của Công đoàn Việt Nam Khi chưa giành được chính quyền, Công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai cấp, Công đoàn vận động, tổ chức công nhân, lao động đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, bảo vệ quyền, lợi của công nhân, lao động. Cuộc đấu tranh của Công đoàn ngày càng phát triển, từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị với mục đích lật đổ giai cấp thống trị xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định.
Thực tế, trong chặng đường lịch sử của đất nước những năm qua, Công đoàn Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện rõ vai trò của mình đối với xã hội, Công đoàn đã thu hút, vận động giáo dục, tổ chức công nhân, viên chức và lao động tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và tư tưởng), Công đoàn đã tỏ rõ sự tham gia tích cực, tác động mạnh mẽ của mình thông qua hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên, Công nhân, viên chức và lao động đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam phát triển và mở rộng không ngừng qua các thời kỳ. Trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại, vai trò của Công đoàn Việt Nam tác động trên các lĩnh vực: * Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa.