CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò tổ chức cơ quan thi hành án dân sự 1. Khái niệm tổ chức cơ quan thi hành án dân sự Theo từ điển Luật học thì thi hành án là "giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật" [66, tr. Thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế.
Bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính, kinh tế. Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả, một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và của công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân bị xâm hại. Có thể thấy rằng, việc thi hành án là hoạt động làm cho các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định của cơ quan tài phán khác được thực hiện trên thực tế. Về nguyên tắc, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được những người, đơn vị liên quan, còn gọi là những người được thi hành án, người phải thi hành án tự nguyện thi hành.
Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì được các cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Các bản án, quyết định được cơ quan thi hành án dân sự đưa ra thi hành đó là bản án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của 6 Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định của Trọng tài thương mại. Ngoài ra, các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự còn quy định các bản án, quyết định được cơ quan thi hành án dân sự đưa ra thi hành, bao gồm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và một số bản án, quyết định của Tòa án tuy chưa có hiệu lực pháp luật (có thể vẫn bị kháng cáo hoặc kháng nghị) nhưng vẫn được đưa ra thi hành để bảo vệ quyền, lợi ích cấp thiết của người được thi hành án đó là bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc và quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Có thể nói thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập, là giai đoạn kết thúc của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bao gồm tổng hợp các hành vi pháp lý nhằm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, các quyết định của cơ quan khác do Nhà nước quy định, có những nét đặc trưng riêng xuất phát từ việc các bản án, quyết định được đưa ra thi hành tuy rất đa dạng nhưng chủ yếu là những quyết định mang tính tài sản đặc trưng của quan hệ dân sự, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự.
Từ sự phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự là “hoạt động mang tính hành chính- tư pháp do cơ quan thi hành án, Chấp hành viên tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để đưa bản án, quyết định dân sự của Tòa án hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Đối với tổ chức, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tổ chức là sản phẩm của con người, là công cụ, điều kiện để con người thực hiện mục đích của mình trong cải tạo tự nhiên và xã hội. Không có tổ chức, con người chỉ là những cá nhân đơn lẻ, không có đủ sức mạnh để tồn tại và phát triển trong đấu 7 tranh chống chọi với thiên nhiên và xã hội.Ăng-ghen đặc biệt quan tâm đến vấn đề tổ chức trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhất là vấn đề xây dựng tổ chức đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Ăng-ghen, qua kinh nghiệm thực tiễn, V.Lê-nin khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác ngoài tổ chức” [70, tr.
Khi đã giành được chính quyền, V.Lê-nin cho rằng: “Lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức” [70, tr. Người tha thiết mong muốn có những tác phẩm có giá trị về tổ chức và quản lý. Người chủ trương: “Mở ngay một cuộc thi soạn hai cuốn sách giáo khoa, hoặc nhiều hơn nữa, viết về tổ chức công tác nói chung, và đặc biệt là về công tác quản lý” [71, tr. Đóng góp đầu tiên cho lý luận về tổ chức phải kể đến nhà nghiên cứu P.
Kéc-gien-txép với tác phẩm “Những nguyên lý của công tác tổ chức” được xuất bản năm 1922. Sau khi phân tích quá trình tổ chức một cuộc mít- tinh, ông đã chia ra 7 yếu tố cơ bản của công tác tổ chức: mục tiêu, loại hình tổ chức, phương pháp, con người, phượng tiện vật chất, thời gian, kiểm tra. Kéc-gien-txép, các nhà xã hội học tổ chức khác như V. A- pha-na-xép với tác phẩm Con người trong quản lý xã hội, V.
Sê-pen với tác phẩm “Tâm lý học trong quản lý sản xuất”, E. Cu-dơ-min và Gi. Vôn- cốp với “Người lãnh đạo và tập thể”, G. Pô-pốp với “Tổ chức các quá trình quản lý”, P.
Ge-no với “Tâm lý học quản lý”. đã góp phần hoàn thiện và phát triển khoa học tổ chức và ứng dụng nó vào thực tiễn đời sống. Khoa học tổ chức đang phát triển mạnh mẽ và đã có những cống hiến to lớn trong xã hội hiện đại. Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta đang đòi hỏi phải quan tâm nghiên cứu, phát triển khoa học tổ chức.
Việc nghiên cứu nắm vững những vấn đề cơ bản về đối tượng, phương pháp và sự hình thành, phát triển của khoa học tổ chức là rất quan trọng để có cơ sở cho việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng những thành tựu của khoa học tổ 8 chức ở nước ta. Qua nghiên cứu có thể thấy rằng có nhiều định nghĩa khác nhau về “tổ chức”, một định nghĩa có ý nghĩa triết học: “Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”.
Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định. Luật học gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt với thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 74 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ những điều kiện như: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Luật học nhấn mạnh đến các điều kiện thành lập tổ chức, các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức.
Có thể nói, từ khái niệm “thi hành án dân sự” và khái niệm “tổ chức”, chúng ta có thể hiểu khái niệm về tổ chức cơ quan thi hành án dân sự như sau: Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự là tập hợp các cơ quan được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương với cơ cấu bộ máy và các công chức phù hợp để thực hiện nhiệm vụ thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Đặc điểm tổ chức cơ quan thi hành án dân sự Từ góc độ tiếp cận về khái niệm của tổ chức cơ quan thi hành án dân sự, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự có thể thấy tổ chức cơ quan thi hành án dân sự có những đặc điểm sau: Thứ nhất, tổ chức cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành (đó là những hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật) nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên lĩnh vực thi hành án dân sự. Thứ hai, hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự được thành lập từ Trung 9 ương đến cấp huyện (từ Tổng cục Thi hành án dân sự đến Chi cục thi hành án dân sự các huyện, thị xã, thành phố), tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi nhiệm vụ thi hành án dân sự. Thứ ba, các cơ quan thi hành án dân sự đều gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước.