phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn cao học gồm 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực trạng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm lao động, lao động nông thôn 1. Khái niệm về lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời, đó là quá trình con ngƣời sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tƣợng lao động cải biến nó tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình và xã hội 1.
Khái niệm về lao động nông thôn Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thƣờng bao quanh các đô thị (thành phố, thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp (nông, lâm, ngƣ nghiệp) đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của ngƣời dân thấp. Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phong phú. Nhƣ vậy, nông thôn có những đặc trƣng sau: - Nông thôn là vùng lãnh thổ sinh sống của cộng đồng dân cƣ chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn. Sản xuất chịu ảnh hƣởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên.
- So với đô thị, nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn. - Nông thôn là vùng có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp hơn đô thị. Đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân cũng thấp hơn. Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động.
- Lực lƣợng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lƣợng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những ngƣời trong độ tuổi lao động mà còn có những ngƣời trên hoặc dƣới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 những công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhƣng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.TS Nguyễn Tiệp (2005), Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội: “Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những ngƣời có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng tham gia lao động nhƣng chƣa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn)”. Tuy nhiên, trong nội dung của luận văn, tác giải sẽ tiếp cận khái niệm lao động nông thôn dựa trên một số đặc điểm cơ bản dặc điểm sau: Số lƣợng lớn: theo số liệu của Tổng cục Thống kê, quý IV/2019, lực lƣợng lao động từ 15 tuổi trở lên ƣớc đạt 56,1 triệu ngƣời Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học không đồng đều, không đƣợc đào tạo cơ bản.
Ngoài ra, họ tham gia sản xuất, phục vụ nông nghiệp: bán giống, cây con, thuốc bảo vệ thực vật… Mang tính thời vụ: lao đông nông nghiệp, nông thôn làm việc có tính mùa vụ do dặc thù của nghề nông. Đối tƣợng của nghề nông là cây trồng, vật nuôi, chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng, vật nuôi ở những địa phƣơng có điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có quá trình sinh trƣởng và phát triển khác nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh viễn, chúng ta chỉ có thể tìm cách giảm tính thời vụ chứ không thể xóa bỏ đƣợc.
GDP/đầu ngƣời thấp. Nông thôn là khu vực trong đó nông nghiệp là hoạt động chủ yếu của ngƣời dân. Nông nghiệp là ngành lao động nặng nhọc và thu nhập thấp, rủi ro cao. Vì vậy điều kiện sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân rất khó khăn, hầu hết thu nhập của họ chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chỉ dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu.
Dựa vào một số đặc điểm cơ bản nêu trên, có thể đƣa ra cách tiếp cận khái niệm lao động nông thôn là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm đào tạo nghề Trƣớc hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm Đào tạo nghề: Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2012), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân “Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để ngƣời lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình” [6.
Đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học nghề. Trong một số văn bản hiện nay, ĐTN và dạy nghề đƣợc đồng nhất với nhau. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Dạy nghề là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến ngƣời học nghề.
Đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của học viên để có đƣợc một nghề nghiệp nhất định. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Là quá trình kết hợp giữa đào tạo (dạy) nghề và học nghề, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những ngƣời lao động nông thôn có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định, có thái độ về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội nông nghiệp, nông thôn. Nói cách khác đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp hay tự chủ, tự chịu trách nhiệm cần thiết của lao động nông thôn để họ có thể kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ, nghề nghiệp.
Trong đó lao động nông thôn: “là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp đang có nhu cầu tìm việc làm”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Mục tiêu ĐTN cho lao động nông thôn: Bình quân hàng năm đào tạo đƣợc nghề cho ngƣời lao động nông thôn; Nâng cao chất lƣợng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn… 1. Khái niệm chính sách, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm Chính sách Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó trong chiến lƣợc phát triển của hệ thống xã hội”.
Theo đó Khái niệm “hệ thống xã hội” đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trƣờng. Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến ngƣời dân”. Nhƣ vậy, phân tích Khái niệm “chính sách” thì thấy: - Chính sách là sản phẩm của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra; - Đối tƣợng thực hiện chính sách là hệ thống chính quyền các cấp từ trung ƣơng đến địa phƣơng, các cơ quan QLNN, cơ quan chuyên môn, các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức sản xuất kinh doanh và cộng đồng dân cƣ.
- Chính sách đƣợc ban hành căn cứ vào đƣờng lối, chính trị chung và tình hình thực tế; - Chính sách đƣợc ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó; chính sách đƣợc ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng; - Chính sách vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan thể hiện ở chỗ chính sách phù hợp với quy luật tự nhiên, xã hội. Mặt khác chính sách lại là sản phẩm tất yếu của chủ thể quản lý, thể hiện ý chí của chủ thể quản lý. - Công cụ, nguồn lực đảm bảo cho việc thực hiện chính sách: về cơ bản Nhà nƣớc, bằng nhiều hình thức phân phối, huy động, điều chỉnh khác nhau nhằm mục đích tập hợp đầy đủ các nguồn lực cả về kinh tế, nhân lực. thực hiện các chính sách đó đề ra đạt hiệu quả cao nhất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.