phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm 3 chương với các biểu mục tương ứng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận: Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý thuyết cơ bản về làng nghề. Đó là phân biệt các khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống; chỉ ra các loại hình làng nghề hiện nay và đặc điểm của nó. Đặc biệt, luận văn nêu lên các điều kiện cần thiết để một làng nghề có thể hình thành, phát triển và chỉ rõ vai trò của nó trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Bên cạnh đó, luận văn cũng bước đầu đi vào tìm hiểu tổng quan về các làng nghề nón lá ở Việt Nam. 7 Trọng tâm của luận văn được giải quyết ở Chƣơng 2. Thực trạng làng nghề nón lá Ba Giang, xã Phù Việt, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ở chương này, ngoài phần tổng quan chung về làng nón Ba Giang như giải thích tên gọi, nghiên cứu nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển của làng nón cũng như các vấn đề về sản phẩm nón lá Ba Giang; luận văn chú trọng đến việc làm rõ thực trạng hoạt động của làng nón Ba Giang hiện nay.
Điều đó thể hiện qua số lượng các hộ sản xuất, kinh doanh sản phẩm; nguồn vốn; nhân công; công nghệ kỹ thuật và thị trường tiêu thụ. Từ đó, tác giả tiến hành so sánh giữa làng nón Ba Giang – Hà Tĩnh với làng nón Chuông – Hà Nội và làng nón Phước Vĩnh – Huế về sản phẩm nón lá và thị trường tiêu thụ. Cuối cùng, với Chƣơng 3. Định hƣớng phát triển làng nón Ba Giang trong bối cảnh kinh tế mới, luận văn chỉ ra được những cơ hội cũng như thách thức của làng nón Ba Giang trước tình hình kinh tế hiện nay và dựa vào đó để định hướng các giải pháp nhằm khôi phục, duy trì và phát triển làng nghề nón lá lâu đời này.
8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Làng nghề: Những vấn đề lý luận chung 1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm làng nghề 1.1 Khái niệm Hiện nay, có rất nhiều ý kiến được đưa ra về khái niệm “Làng nghề”. Nhưng tựu chung, có thể hiểu khái quát về làng nghề như sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa” [48, tr. Đối với khái niệm “Làng nghề truyền thống”, một số học giả nổi tiếng đã đưa ra những định nghĩa cho riêng mình. Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, ông định nghĩa về “làng nghề” nhưng chính xác hơn là “làng nghề truyền thống” – nếu chiếu theo Bộ tiêu chí về công nhận làng nghề truyền thống [xem Quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, phụ lục 4] – như sau “làng nghề là làng ấy tuy có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra được những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô,… và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài” [45, tr.
Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng 9 đồng thời là người làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình…” [43, tr.
Ngày nay, khi khoa học và công nghệ cùng với sự phân công lao động đã phát triển ở mức độ cao hơn thì khái niệm làng nghề cũng được mở rộng hơn, nó không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có các hộ chuyên làm nghề thủ công. Điều này có thể hiểu tới hai giác độ. Thứ nhất, đó là công nghệ sản xuất không hoàn toàn là công nghệ thủ công như trước đây, mà ở nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí và bán cơ khí. Thứ hai, đó là trong các làng nghề, khi sản xuất phát triển ở mức độ cao hơn thì sẽ làm này sinh sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhằm phục vụ cho nó.
Do vậy, xuất hiện nhiều người chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ và các cơ sở sản xuất chuyên làm nghề thủ công, từ đó hình thành và phát triển những làng nghề với mô hình kết hợp nhiều nghề.2 Phân loại Việc phân loại các làng nghề hiện nay gặp không ít khó khăn bởi tính đa dạng và phong phú của nó. Có thể tạm chia làng nghề theo ba cách sau: + Phân theo số lượng nghề: – Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề thủ công duy nhất. – Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số hoặc nhiều nghề khác. + Phân loại theo tuổi nghề: – Làng nghề truyền thống: là những làng nghề xuất hiện từ lâu trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay.
– Làng nghề mới: là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác. Một số làng nghề mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân, cho thợ đi học nghề ở các nơi khác 10 rồi về dạy lại cho người dân ở địa phương mình. Các làng nghề mới thường được xác định là những làng nghề hình thành từ sau năm 1954 [38, tr. + Phân loại theo loại hình sản phẩm: – Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm, sứ, dệt tơ tằm, chạm khắc gỗ, đá, thêu ren,… – Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống như: rèn, mộc, nề, hàn, đúc, gang, vật liệu xây dựng, đóng thuyền, dệt vải, dệt chiếu cói, làm nón, làm quạt giấy, làm đồ chơi… – Làng nghề chuyên chế biến lương thực, thực phẩm, dược liệu như: xay xát, làm bún, nấu rượu, làm tương, chế biến hải sản, thuốc Nam, Đông y… – Làng nghề khác: làm cung, nỏ, tái chế giấy, tái chế nhựa, tái chế kim loại,… Tuy nhiên, những cách phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tương đối, chỉ để tham khảo mà thôi.3 Đặc điểm Như trong phần khái niệm ở mục 1.1 đã nêu, “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề”; vì thế cho nên, nói đến đặc điểm của làng nghề cũng chính là nói đến đặc điểm của nghề thủ công hay nghề thủ công truyền thống cùng với những đặc điểm kinh tế, xã hội của làng nghề đó.
Bởi vì đề tài “Làng nón Ba Giang, xã Phù Việt, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp” là đề tài nghiên cứu về một làng nghề thủ công đã có từ lâu đời nên trong phần đặc điểm làng nghề này, tác giả sẽ đi sâu vào đặc điểm của các làng nghề thủ công truyền thống. Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm * Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ Đặc điểm đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết dòng họ. Công cụ sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra. Công 11 nghệ của nghề thủ công hầu như phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người thợ.
Do vậy, tính chủ quan của người thợ đối với sản phẩm là rất lớn. Sản phẩm không chỉ đòi hỏi lao động khéo léo của người thợ mà còn đòi hỏi sự tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ. Một đặc tính quan trọng của công nghệ truyền thống là không thể thay thế hoàn toàn bằng công nghệ hiện đại, mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu nhất định. Đây là một trong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm.
* Đặc điểm về sản phẩm Đặc điểm riêng nhất, đặc sắc nhất của sản phẩm truyền thống là sự độc đáo và có tính nghệ thuật cao. Đặc điểm này được quy định bởi kỹ thuật công nghệ sản xuất thủ công truyền thống đã có từ hàng trăm năm, hàng nghìn năm và còn tồn tại cho đến ngày nay. Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng mang trình độ kỹ thuật riêng và đặc trưng riêng của làng đó, vùng đó mà nơi khác không hề có, hoặc nếu có nhưng không phổ biến. Do vậy, người ta có thể phân biệt được sản phẩm gốm sứ của Bát Tràng với gốm sứ của Đồng Nai, sản phẩm đúc đồng của Đại Bái với sản phẩm đúc đồng ở Thừa Thiên – Huế, nón lá xứ Nghệ và nón lá xứ Huế… Một đặc điểm nữa của sản phẩm truyền thống đó là tính riêng lẻ, đơn chiếc.
Đặc điểm này cũng do sự quy định của việc sử dụng công cụ thủ công và công nghệ truyền thống. Sản phẩm được sản xuất ra do từng cá nhân thực hiện bằng những công cụ thủ công nên không thể sản xuất hàng loạt mà chỉ là từng chiếc một. Điều này tạo cho sản phẩm một sắc thái riêng và sự hấp dẫn riêng. Mặt khác, sản phẩm truyền thống rất đa dạng và phong phú do phải đáp ứng được nhu cầu của đời sống kinh tế và văn hóa của người lao động.
Nó bao gồm nhiều chủng loại như sản phẩm là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và các sản phẩm nghệ thuật,… 12 b. Đặc điểm về kinh tế - xã hội * Đặc điểm về sự gắn bó với sản xuất nông nghiệp và nông thôn Trong các làng nghề truyền thống, người thợ thủ công đồng thời là người nông dân.