CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới: Vấn đề lựa chọn nghề nghiệp không là một vấn đề mới bởi ngay từ thời cổ đại, tư tưởng này đã được thể hiện ở mức độ sơ khai thông qua sự phân chia giai cấp, sự phân chia công việc theo giới tính. Sau đó, đi cùng với sự thay đổi của xã hội, yêu cầu nghề nghiệp ngày càng cao hơn và vai trò của việc định hướng nghề nghiệp trở nên rõ ràng hơn.
- Năm 1849, quyển sách “Hướng dẫn chọn nghề” - được xem là quyển sách đầu tiên nói về hướng nghiệp được xuất bản tại Pháp. Nội dung cuốn sách đã khẳng định tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp khi công nghiệp phát triển, nhu cầu về nguồn nhân lực đa dạng đang không ngừng gia tăng đồng thời giáo dục hướng nghiệp góp phần thúc đẩy xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ.14] - Năm 1893, quyển sách “Hướng dẫn thực hành cho việc chọn nghề” của Marcotti đã đưa ra các mô tả về năng khiếu, kiến thức cho nhiều ngành nghề và đưa ra danh sách các trường tốt nhất cho từng ngành nghề cụ thể [62] - Năm 1908, hội đồng nghề nghiệp hỗ trợ việc chọn nghề cho người lao động được tổ chức tại Boston (Mỹ) lần đầu tiên và thuật ngữ “hướng nghiệp” cũng chính thức được giáo sư Frank Parson (Đại học tổng hợp Garvared) sử dụng.4] - Năm 1909, Frank Parsons - một nhà cải cách xã hội Boston, đã xuất bản quyển sách “ Chọn nghề “ - “Choosing a vocation”, nêu ra các mô hình hiện đại cho việc lựa chọn và phát triển nghề nghiệp dựa trên sự hiểu biết về bản thân ; yêu cầu của từng nghề nghiệp và mối tương quan giữa chúng. [62] - Năm 1938, sau Hội nghị quốc tế về hướng nghiệp tổ chức tại Bacelona (Tây Ban Nha), hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp được quan tâm mạnh mẽ hơn và trở thành xu thế của nhiều quốc gia trên thế giới.6] Vai trò quan trọng của công tác hướng nghiệp được thể hiện rõ ở các nước phát triển như Liên Xô, Mỹ, Anh, Phần Lan, Pháp, Đức, Nhật Bản, Úc … Họ có đội ngũ giáo viên chuyên trách cho công tác này xuyên suốt các năm cuối cấp ở bậc trung học, các tổ chức hướng nghiệp cũng được thành lập nhằm hỗ 8 trợ học sinh tối đa trong việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp. Ví dụ như ở Đức, năm 1925-1926 đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp hay từ những năm 1932, ở Liên Xô đã có 54 Hội đồng tư vấn nghề nghiệp.
- Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J. L Holland đã đưa ra lí thuyết về sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp. Ông đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của đã được sử dụng rộng rãi nhằm giúp học sinh biết được sở thích và khả năng nghề nghiệp của bản thân thông qua bộ công cụ giúp mỗi người tự khám phá bản thân của J.
- Từ 1960-1970, việc tổ chức cho học sinh trung học phổ thông được thực hành ở các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở kinh doanh như một hình thức hướng nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu ở Cộng Hòa Liên Bang Đức như Helmut Kein, Michael Schumann, Gehart, Duismann tìm hiểu. [18] - Các tác giả Morgan và Hart (1977) khi nghiên cứu về vai trò của GDHN trong nhà trường cũng đã khẳng định GDHN trong nhà trường cần phải khuyến khích HS suy nghĩ về bản thân và về thế giới nghề nghiệp; chỉ rõ rằng HS cần có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp một cách thông minh. [64] - 1987, các tác giả Hossler và Gallather trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng yếu tố gia đình, bạn bè ảnh hưởng đến việc chọn trường đại học của học sinh, trong đó tỉ trọng của yếu tố gia đình lớn hơn. [61] - Năm 1996, Jacques Delos - cựu chủ tịch Ủy ban Châu Âu, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về khoa học và giáo dục (UNESCO) trong bài báo cáo của mình đã đưa ra quan điểm về 4 trụ cột của giáo dục “Học để biết, học để làm, học để chung sống với nhau và học để làm người”.
Ông cũng khẳng định “ Học sinh ở bậc học phổ thông cần học văn hóa, khoa học song song với tham gia các hoạt động nghề nghiệp nhằm gia tăng cơ hội phát triển năng lực bản thân”. [65] - Năm 2002, Michael Borchert đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn trường đại học của học sinh Trung học phổ thông và đưa ra kết luận yếu tố đặc điểm cá nhân có tác động lớn nhất đến lựa chọn của học sinh. [60] 9 - Trong “A career guidance Policy and Strategy for Compulsory Scholing in Malta” được xuất bản năm 2007, Manwel Debono và các cộng sự công bố cũng cho rằng giáo dục nghề nghiệp cần có một chương trình chuyên nghiệp và nên được thực hiện ở cả trường tiểu học và trung học, cần có các điều phối viên, các cố vấn, các trung tâm hỗ trợ hướng nghiệp quốc gia. [63] Có thể đưa ra ví dụ về hệ thống này ở một số quốc gia như: [77] + Đức: Hệ thống tư vấn cung cấp các dịch vụ tư vấn giáo dục và nghề nghiệp cho mọi công dân ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời của họ - cho dù họ đang đi học, đi làm, thất nghiệp hoặc tìm kiếm sự giáo dục tiếp tục.
Có tư vấn và định hướng ở trường, tư vấn học nghề của Cơ quan việc làm liên bang, tư vấn học tập đại học, tìm việc và tư vấn tại cơ các Trung tâm việc làm, tư vấn giáo dục của địa phương, các Trung tâm giáo dục người lớn, hướng nghiệp của các tổ chức xã hội (như phòng thương mại hay phòng công nghiệp) và tư vấn của các nhà cung cấp giáo dục tiếp tục. + Mỹ: Chủ yếu có 2 hình thức tham vấn học đường và văn phòng hướng nghiệp. Tham vấn học đường chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu của học sinh ở ba lĩnh vực cơ bản sau: phát triển học tập, phát triển hướng nghiệp và phát triển cá nhân/xã hội có ở cả 3 bậc học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Sau khi ra trường, vai trò hướng nghiệp thuộc về các văn phòng tham vấn.
Thanh niên có thể tìm được sự hỗ trợ ở đây sau khi tốt nghiệp đến khi tìm được việc làm. [40] + Áo: Có hai hệ thống định hướng và tư vấn cùng hợp tác với nhau trong định hướng và tư vấn do các cơ sở giáo dục và đào tạo, các dịch vụ định hướng của các cơ quan việc làm và các tổ chức khác trong lĩnh vực hướng nghiệp, phòng thương mại, phòng lao động. Những người trẻ tuổi có nhiều lựa chọn về hướng nghiệp có cả bên trong và bên ngoài hệ thống trường học. Ở Áo có sáu Trung tâm Tư vấn Tâm lý dành cho những sinh viên đại học và những người sắp trở thành sinh viên, trong khi Cơ quan Dịch vụ Lao động Công của Áo (PES) là một bên liên đới quan trọng trong tư vấn cho người lớn.
Người lớn cũng có thể được tư vấn giáo dục miễn phí ở tất cả 9 tỉnh. + Pháp: Hệ thống hướng nghiệp ở Pháp được đặc trưng bởi sự đa dạng của các dịch vụ thông tin và tư vấn. Các dịch vụ này đã được thiết kế, theo nhóm mục tiêu (học sinh, người lớn, người thất nghiệp, người khuyết tật.), loại hình dịch vụ (tư vấn cá nhân, đánh giá kỹ 10 năng, đào tạo, thông tin.), trình độ chuyên môn (nhà tâm lý học, tư vấn viên, giáo viên, nhân viên công tác xã hội.), loại hình cơ sở (công, tư, chuyên nghiệp, thương mại.) và tài chính (nhà nước, địa phương, người dùng, công ty…). + Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước phân luồng theo hai hướng chính là tiếp tục học lên trung học phổ thông hay học nghề ở các trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc).
Ở các quốc gia như Trung Quốc, Philippine các môn hướng nghiệp được tích hợp vào các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật và lao động ở bậc học phổ thông. Ở Philippine, Malaysia hoạt động giáo dục hướng nghiệp chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn. Với các quốc gia như Nhật, Hàn, việc chú trọng nhiều đến các môn tự chọn ở bậc học trung học phổ thông cũng nhằm giúp học sinh khám phá và xác định rõ điểm nổi trội của bản thân góp phần định hướng chọn nghề sau này. [21] Tóm lại, có thể nói hướng nghiệp là vấn đề đã và đang không ngừng nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu quốc tế bởi tầm quan trọng của nó.
Các nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp trên thế giới không ngừng đào sâu về các khía cạnh của hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp công tác này ngày càng phát triển và đem lại hiệu quả cao hơn. Bên cạnh các nghiên cứu về chọn nghề, hướng nghiệp, hệ thống tư vấn nghề ở các quốc gia cũng thể hiện rõ mối quan tâm chung của cộng đồng dành cho công tác hướng nghiệp nói chung và giáo dục hướng nghiệp ở bậc học phổ thông nói riêng. Các nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam, công tác hướng nghiệp chỉ bắt đầu được quan tâm từ sau những năm 1960 và đặc biệt được chú ý ở những năm 1980. Các tác giả như : Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ảnh, Phan Huy Thụ, Phạm Minh Hạc, Đoàn Chi, Trần Khánh Đức, Nguyễn Đức Trí … được xem là những nhà tiên phong trong việc nghiên cứu về lĩnh vực này.
Các tác giả Phạm Tất Dong, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ đã đề cập đến trách nhiệm của nhà trường trong việc định hướng nghề cho HS, biện pháp hướng nghiệp cho HS và xây dựng một số cơ sở lí luận nền tảng về hướng nghiệp [38], [26], [8], [39]. Năm 1984, trong quyển “Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông” [43] và năm 1989 trong quyển “Giúp bạn chọn nghề” [41] tác giả Phạm Tất Dong đã đề cập đến 11 công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông và đưa ra những tư vấn giúp học sinh chọn được nghề phù hợp.