CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự Trước khi tìm hiểu khái niệm thủ tục ban hành quyết định thi hành án, cần làm rõ các khái niệm sau: "Thủ tục" - xét về mặt ngôn ngữ có nghĩa ''những việc cụ thể phải làm theo một trình tự đã được quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức". Qua đó, có thể hiểu khái niệm thủ tục là phải thực hiện một công việc nhất định theo những quy định cụ thể, được sắp xếp theo trình tự nhất định, còn "Ban hành" là "Công bố hoặc cho thi hành". Theo từ điển Luật học, nhà xuất bản từ điển Bách Khoa, năm 2006: “THADS là hoạt động của Cơ quan THADS, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án”.
Quá trình tổ chức thi hành quyết định, bản án của tòa án gồm 03 giai đoạn: Thụ lý thi hành án, tổ chức thi hành án và thẩm tra, lưu trữ hồ sơ thi hành án. Thụ lý thi hành án là giai đoạn đầu tiên để ban hành Quyết định thi hành án. "Quyết định thi hành án" là văn bản do Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ban hành để đưa ra thi hành một hoặc nhiều khoản của những bản án, quyết định dân sự được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, làm căn cứ cho Chấp hành viên lập hồ sơ thi hành án và tổ chức việc thi hành án, nhằm đảm bảo lợi ích của người được thi hành án, của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án. Quyết định thi hành án được ban hành là khâu cuối cùng của việc thụ lý thi hành án.
Việc ban hành quyết định thi hành án là thủ tục đầu tiên và là một trong số nhiều thủ tục rất quan trọng mà cơ quan THADS phải thực hiện trong quá trình tổ chức thi hành án. Quyết định thi hành án là cơ sở để Chấp hành viên làm căn cứ trong quá trình tổ chức thi hành án. 6 Từ sự trình bày nêu trên, chúng ta rút ra khái niệm: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự là trình tự, thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm công bố hoặc cho thi hành để đưa phần dân sự trong bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài thương mại và của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành. Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự có đặc điểm là: chúng được điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục tư pháp (quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền hệ thống của các cơ quan tư pháp), là căn cứ pháp lý hiệu lực để ràng buộc các cơ quan nhà nước tiến hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo thẩm quyền trong Thi hành án dân sự.
Vai trò của Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự là rất quan trọng, bởi đó là căn cứ trước hết để đảm bảo hiệu lực pháp lý cũng như thuận lợi trong việc tiến hành tổ chức sự phối hợp chặt chẽ hữu cơ giữa các cơ quan tư pháp với cơ quan hành pháp nhằm thi hành hiệu lực, hiệu quả các bản án án dân sự mà Tòa đã tuyên. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự 1. Thẩm quyền ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự: Trước hết, cần bám sát quy định của pháp luật tố tụng và thi hành án dân sự để xác định cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành hay không? Việc xác định bản án, quyết định của Tòa án có thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan THADS hay không, cần đối chiếu vào bản án, quyết định để xác định loại vụ việc, tòa án (cơ quan có thẩm quyền) đã giải quyết, nội dung của phán quyết và căn cứ vào Điều 1, Điều 2 Luật THADS. Trường hợp xác định các bản án, quyết định đó được tổ chức thi hành theo quy định pháp luật về THADS thì tiếp tục xác định về thẩm quyền tổ chức thi hành án thuộc cơ quan mình hay cơ quan THADS nơi khác.
Theo quy định tại Điều 35 7 Luật THADS 2014 thì thẩm quyền tổ chức thi hành án được xác định: 1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh trên cùng địa bàn; Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại Khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành và Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp về thi hành án. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định đó là: Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu 8 tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; Bản án, Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.
Theo quy định tại Điều 35 Luật THADS thì đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, cơ quan THADS cấp huyện hoặc cấp tỉnh sẽ ra quyết định thi hành án tùy thuộc vào Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là tòa án cấp nào. Như vậy, vê nguyên tắc, thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng tương tự như đối với thẩm quyền thi hành của các bản án, quyết định khác của Tòa án và Trọng tài thương mại. Tuy nhiên, các loại biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Trọng tài thương mại áp dụng cũng có nhiều điểm tương tự như của Tòa án nhưng thẩm quyền thi hành quyết định áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thời của Trọng tài thương mại chỉ thuộc về cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh. Đồng thời, khi tiếp nhận quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, cơ quan thi hành án cũng cần lưu ý về trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân tỉnh) trong quá trình xét xử phúc thẩm có ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thẩm quyền ra quyết định thi hành án vẫn thuộc về cơ quan thi hành án cấp huyện dù Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án cấp tỉnh.
Thực tế tại Quảng Nam đó là trong quá trình xét xử phúc thẩm đối với Bản án số 34/2010/DSST ngày 13/3/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 09/2010/QĐ-BPKCTT ngày 02/11/2010 với nội dung: “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 115 của Bộ luật tố tụng dân sự; cấm ông Trần Minh S và bà Thái Thị Thu N chuyển nhượng, tặng cho đối với tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 169m2, thuộc thửa số 226, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khối phố 10, 9 phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do ông Trần Minh S và bà Thái Thị Thu N đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H2995 do UBND Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 01/9/2008. Trong trường hợp nói trên, mặc dù, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thời. Tuy nhiên, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân Quảng Nam sẽ do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ tổ chức thi hành.