CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Cơ sở của bảo tồn sinh học, các phương án bảo tồn Bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay đang rất được quan tâm trên thế giới. Tuy nhiên, dưới sức ép về kinh tế, nhu cầu sống thì việc bảo vệ đa dạng sinh học cũng như bảo vệ môi trường vẫn còn rất khó khăn.
Sự nỗ lực của con người được thể hiện đầu tiên bằng việc xây dựng vườn Quốc gia Yellowstone ở Mỹ năm 1872. Từ đó đến nay, con người đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo vệ thiên nhiên, nhằm ngăn chặn sự phá huỷ môi trường do chính con người gây ra. Công tác bảo tồn từ đó được tiến hành mạnh mẽ theo các quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất là phải bảo tồn nghiêm ngặt, con người phải cách ly hoàn toàn với tài nguyên thiên nhiên và không được phép khai thác bất cứ thứ gì.
Quan điểm thứ 2 hướng đến việc sử dụng và phát triển bền vững.[46] Hiện nay chúng ta sử dụng khái niệm: bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH. Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh. Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật.
Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau: - Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation): Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên. Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp. c 4 - Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation): Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng.
Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống… - Phục hồi (Rehabilitation): Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ. Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái. Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có.
Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH. Ngoài việc xây dựng các KBT cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH. Các nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên và phục hồi rừng Tái sinh rừng tự nhiên, về bản chất, tất cả mọi thực vật đều tái sinh và chủ yếu bằng hạt. Một khu rừng mới có thể được thiết lập bằng con đường tái sinh tự nhiên khi có đầy đủ các yếu tố sau: c 5 - Trên diện tích có đủ lượng hạt giống đảm bảo chất lượng hoặc gốc mẹ để nảy chồi - Điều kiện đất và lập địa thuận lợi cho hạt nảy mầm hoặc thuận lợi cho việc nảy chồi từ gốc cây mẹ - Điều kiện môi trường thuận lợi cho cây con mới tái sinh tồn tại (sống được) và sinh trưởng Sự liên kết giữa các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên của cây rừng có mối quan hệ rất chặt chẽ.
Khi các nhân tố trên cùng đạt được điều kiện tối thích cho sự nảy mầm của hạt. Nếu một nhân tố bị phá vỡ hay chưa đạt điều kiện phù hợp do hiện tượng thiên nhiên hoặc tác động của con người thì quá trình tái sinh sẽ bị thất bại hoặc số lượng cây tái sinh bị hạn chế; sau đó, các quá trình được lặp lại vào chu kỳ tiếp theo (năm tiếp theo hoặc chhu kỳ sai quả,.) và cứ thế tiếp tục theo trật tự của động thái diễn thế cho đến khi rừng đạt một tổ thành và mật độ ổn định. Đối với một số nước châu Âu, việc tạo rừng bằng gieo hạt thẳng đã được thực hiện khá phổ biến, ngay cả việc gieo hạt bằng máy bay cũng đã được áp dụng, đã chỉ ra một số chỉ tiêu về lượng hạt và phương pháp chuẩn bị đất gieo hạt của một số loài phụ thuộc vào kích thước hạt và tỷ lệ nảy nảy mầm tự nhiên của chúng. Trong đó các biện pháp xử lý hạt trước khi gieo, thời điểm gieo hạt, phương pháp làm đất, bón phân cũng như chăm sóc cây sau khi nảy mầm đã được trình bày rất kỹ lưỡng.
Phương thức trồng rừng bằng cây con là phương thức chủ yếu được tập trung nghiên cứu một cách hệ thống từ khâu chọn giống, nhân giống, tạo cây con đến các kỹ thuật và phương thức trồng rừng.[21] Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất của ngành lâm nghiệp. Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây. Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm c 6 sinh xây dựng và phát triển rừng. Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có.
Viện khoa học Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis,…trong thời kỳ (1985 -1998).Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của nước này và những hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng. Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm. Bảo tồn và tái sinh tự nhiên loài DSĐV Trên thế giới, loài DSĐV được xác định và nghiên cứu đầu tiên bởi các nhà thực vật học Trung Quốc, cho đến bây giờ Trung Quốc vẫn là nước có nhiều công trình nghiên cứu về loài này nhất. Tác giả Farjon (1989) cho biết loài Du sam là loài có phân bố ở Trung Quốc (vùng Tây Nam Sichuan Trung Quốc và vùng núi cao Hainan) và Lào.
Tên Trung Quốc gọi là Yunnan youshan. Chi Du sam có 11 loài khác nhau, phân bố ở phía Nam sông Trường Giang (Trung Quốc) và một số nước ở khu vực Đông c 7 Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở Trung Quốc có 9 loài được xác định và mô tả. Du sam được các nhà thực vật học Trung Quốc là những người đầu tiên xác định và nghiên cứu như sau:Du sam là cây ưa sáng, ưa khí hậu ẩm, ấm, yêu cầu đối với đất không nghiêm khắc lắm phần lớn mọc trên núi đá vôi, cũng thích hợp với đất chua, tốc độ sinh trưởng vừa phải, khả năng tái sinh những vùng như Vân Nam rất mạnh, còn các vùng khác kém hơn.
Do chất lượng gỗ tốt nên bị khai thác quá nhiều, ngày nay càng hiếm hơn. Hiện nay Du sam được xếp loại cần được bảo vệ và thuộc loại cây quý hiếm cấp III của Trung Quốc.[49] Tại Đại học sư phạm Bắc Kinh – Khoa sinh vật học tác giả Uy An Như trong tập san Sinh vật học Trung Quốc đã nêu rõ Du sam là loài thực vật cổ còn sót lại trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Năm 1979 các nhà nghiên cứu thực vật đã phát hiện tại khu rừng Thần Nông Gía thuộc tỉnh Hồ Bắc có mặt cây Du sam cổ thụ cao 36m, chu vi ngang ngực 7,5m; thể tích gỗ hơn 60m3. Sau đó phát hiện thêm một cây cổ thụ nữa tại Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên cao 50m, đường kính ngang ngực 2,8m.
Cũng theo Uy An Như, Du sam thuộc họ Thông (Pinaceae). Việt Nam có 2 loài, 9 loài còn lại đều ở Trung Quốc phân bố ở nơi có khí hậu ấm áp của Trung Quốc [53]. Năm 1998, tài liệu “Các loại rừng cây lá kim Trung Quốc” đã đưa ra các thông tin về loài như sau: DSĐV (Thiết kiên sam – Keteleeria davidiana) là một trong những loài cây đặc hữu quý hiếm của Trung Quốc. Cây có thân thẳng, hình thái thân tán đẹp, sinh trưởng nhanh, là cây trồng rừng, trồng lục hóa rất có giá trị.