Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM - Khái niệm đầu tư [1] - Một số quan điểm về đầu tư + Nhà kinh tế học John M. Keynes cho rằng đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài tài chính để thu lợi nhuận: “Đầu tư, theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản. Đôi khi, thuật ngữ này còn bị giới hạn trong việc mua một tài sản tại sở giao dịch chứng khoán”.
Ông có nói đến đầu tư mua tài sản tài chính, song chủ yếu tập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng….) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tương lai: “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai mà người đó hy vọng giành được qua việc bán sản phẩm do tài sản cố định làm ra”. Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra. + Nhà kinh tế học P.A samuelson cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh….
Theo ông trong thuật ngữ tài chính, đầu tư mang một nghĩa hoàn toàn khác, dùng để chỉ mua một loại chứng khoán… đó không phải là đầu tư thật sự của nền kinh tế. Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là: “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện Luan van 5 nay với tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư. + Theo từ điển giải nghĩa tài chính, đầu tư, ngân hàng, kế toán Anh Việt, NXB KHKT, năm 1999 thì đầu là dùng vốn để có được nhiều tiền hơn, hoặc thông qua những phương tiện tạo ra thu nhập (lãi, lợi nhuận) hoặc thông qua những hình thức kinh doanh mạo hiểm có nhiều rủi ro hơn để kiếm lãi vốn. Quan niệm này đã tiếp cận khái niệm đầu tư dưới góc độ vốn, dùng vốn để đem lại vốn nhiều hơn, song chưa phản ánh kết quả đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm năng lực của nền kinh tế.
- Qua tìm hiểu các quan niệm về đầu tư, có thể phân biệt một số loại đầu tư như sau: [2] Thứ nhất là đầu tư tài chính: Là loại đầu tư, trong đó người ta có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳ thuộc và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty phát hành. Thứ hai là đầu tư thương mại: Là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi bán. Thứ ba là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: Là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân. - Có nhiều khái niệm về đầu tư và các loại đầu tư khác nhau tuỳ theo các góc độ nghiên cứu khác nhau.
Tuy nhiên, một khái niệm được nhiều người đồng tình nhất: Đầu tư được hiểu là việc sử dụng một khoản tiền vào việc tạo ra Luan van 6 hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm thu được các kết quả trong tương lai lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt động đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc gia, vùng, miền. Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư, tức là căn cứ vào đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào là không phải đầu tư theo những phạm vi xem xét cụ thể. - Đầu tư có một số đặc điểm chủ yếu sau đây: Một là, hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực tương ứng với các đơn vị đo lường khác nhau, nhưng thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện.
Khi nơi đến đầu tư thì thường được biểu hiện bằng tổng số tiền cần chi hoặc đã chi. Hai là, thời gian kể từ khi bắt đầu thực hiện đầu tư cho đến khi các kết quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng phải kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều năm, tháng). Ba là, chi phí cần thiết cho một cuộc đầu tư lớn và phải nằm ứ đọng trong suốt quá trình đầu tư. Bốn là, mục đích của đầu tư là sinh lời, kết quả đầu tư mang lại trong tương lai lớn hơn so với chi phí bỏ ra.
- Vốn đầu tư [1] Vốn đầu tư là sự biểu hiện bằng tiền các khoản mục chi phí gắn liền với nội dung của các hoạt động đầu tư. Để rõ hơn nguồn gốc vốn đầu tư, hay nguồn gốc các khoản tiền bỏ ra đầu tư, ta nghiên cứu bản chất vốn đầu tư. Bản chất của nguồn vốn đầu tư: Muốn thực hiện công cuộc đầu tư sản xuất, cần có các nguồn đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. khoản tiền cần có Luan van 7 trang trải các chi phí ứng trước này là vốn đầu tư.
Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải đã làm ra, sau khi trừ đi phần tiêu dùng. Học thuyết của Mác đã khẳng định về cơ bản và lâu dài, vốn đầu tư có được nhờ đẩy mạnh sản xuất và thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. Ngoài nguồn tiết kiệm trong nước, nguồn vốn đầu tư có thể được huy động từ nước ngoài. Qua nghiên cứu về bản chất của nguồn vốn đầu tư, từ đó có thể rút ra khái niệm hoàn chỉnh về vốn đầu tư: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo năng lực mới nền kinh tế - xã hội.
- Phân loại nguồn vốn đầu tư Để có chính sánh thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế, cần phân loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn. Ở giác độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư có thể chia thành nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. + Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả từ bên ngoài.
Nguồn vốn trong nước chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Mặc dù, thời đại ngày nay các đồng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn tiết kiệm từ trong nước vẫn giữ vai trò quyết định. Các nước Đông Á trong những năm 1960 mức tiết kiệm đạt được chỉ 10% hoặc ít hơn và đã vay nhiều thị trường vốn quốc tế, thế nhưng đến những năm 90 tiết kiệm của các nước này cao hơn đáng kể, Luan van 8 bình quân đạt 30%. Có thể nói, tiết kiệm luôn ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng, nhất là ở những nước đang phát triển, vì làm tăng vốn đầu tư.
Hơn nữa, tiết kiệm đó là điều kiện cần thiết để hấp thụ vốn nước ngoài có hiệu quả, đồng thời giảm được sức ép về phía ngân hàng trung ương trong việc hàng năm phải cung ứng thêm tiền để tiêu hoá ngoại tệ. Tiết kiệm trong nước được hình thành từ các khu vực sau: - Tiết kiệm của ngân sách nhà nước: Là số chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách. Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Nghĩa là, số thu nhập tài chính mà ngân sách tập trung được không thể xem ngay đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, điều này còn phụ thuộc vào chính sách chi tiêu dùng của ngân sách.
Nếu quy mô chi tiêu dùng vượt quá số thu nhập tập trung thì nhà nước không có nguồn để tạo vốn cho đầu tư. Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế bởi yếu tố thu nhập bình quân đầu người, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm ngân sách nhà nước, trên cơ sở kết hợp xem xét chính sách đó có đẩy lùi tiết kiệm của doanh nghiệp và dân cư. Như vậy, để gia tăng tiết kiệm của ngân sách nhà nước thì nền kinh tế cũng phải trả giá nhất định, vì sự giảm sút tiết kiệm của khu vực tư nhân. Tuy nhiên sự sụt giảm sẽ không hoàn toàn tương ứng với mức tăng tiết kiệm của ngân sách nhà nước nếu như tiết kiệm của ngân sách chủ yếu là thực hiện bằng cách cắt giảm chi tiêu dùng ngân sách.
- Tiết kiệm của doanh nghiệp: Là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh. Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu.