CHƯƠNG 1: DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM SAU 1975 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA THƠ TUYẾT NGA 1.Diện mạo thơ Việt Nam sau 1975 1. Những mối quan tâm mới và những nguồn cảm hứng mới Từ 1975 trở lại đây do hiện thực cuộc sống thời hậu chiến và thời kinh tế thị trường phong phú, đa dạng; sự nở rộ về số lượng các cây bút cũng như sự bùng nổ của hệ thống truyền thông và nhu cầu thưởng thức thơ ca của quần chúng, nhu cầu được khám phá phần bản thể hồn mình của chính người cầm bút cũng như nhu cầu đổi mới của chính văn học mà thơ ca có sự chuyển hướng rõ nét trên nhiều phương diện trong đó phải đặc biệt chú ý đến là sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo. Qua các bài viết của các nhà nghiên cứu văn học như Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Long, Lê Lưu Oanh hay các bài viết của Đặng Thu Thủy chúng tôi xin được khái quát lại sự vận động trong tư duy nghệ thuật của các nhà thơ sau 1975 bằng bốn xu hướng nổi bật là: Xu hướng nhìn lại lịch sử và viết về chiến tranh với cái nhìn phi sử thi; xu hướng trở về với cái tôi cá nhân với những lo âu của đời sống thường nhật; xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh, vô thức của con người; xu hướng hiện đại và hậu hiện đại. * Xu hướng nhìn lại lịch sử và viết về chiến tranh với cái nhìn phi sử thi Trong bối cảnh chiến tranh, cũng như văn xuôi thơ mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Khuynh hướng sử thi biểu hiện ở cả ba phương diện là đề tài- chủ đề, khắc họa hình tượng và giọng điệu. Về đề tài- chủ đề thơ ca ba mươi năm này là thơ ca của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng, thơ ca của những niềm vui lớn trong cuộc sống xã hội chủ nghĩa với những đỉnh cao như Việt Bắc, Ra trận, Máu và Hoa của Tố Hữu, Riêng chung, Tôi giàu đôi mắt, Cầm tay của Xuân Diệu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận,… Về khắc họa hình tượng, hình tượng thơ được khắc họa là hình ảnh những con người đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn download by : skknchat@gmail. Đó là những con người có khả năng đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc và thời đại, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu vì sự sống còn của Tổ quốc như hình ảnh cô thanh niên xung phong, cô du kích, anh chiến sĩ giải phóng quân, hình ảnh người mẹ, vị lãnh tụ Hồ Chí Minh,… Về giọng điệu, đó là giọng điệu mang tính sử thi, giọng anh hùng ca, ngợi ca: Anh là chiến sỹ giải phóng quân. Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi Anh giải phóng quân! Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.
(Dáng đứng Việt Nam- Lê Anh Xuân) Đứng trên tư thế của người chiến thắng, cả dân tộc hân hoan ca khúc ca khải hoàn. Nhưng khi chiến tranh đi qua, có thời gian để chiêm nghiệm, chúng ta nhận ra rằng để có ngày chiến thắng chúng ta đã phải hy sinh biết bao máu xương, bao nước mắt. Và bao nỗi đau vẫn còn đó, bao vết thương cũng chưa thể chữa lành. Từ cảm hứng sử thi, văn học chuyển mình sang cảm hứng phi sử thi.
Sự chuyển mình ấy cũng thể hiện ở ca ba phương diện là chủ đề- đề tài; khắc họa hình tượng và giọng điệu. Ở chủ đề- đề tài, trở về với lịch sử, tổ quốc vốn thiêng liêng, uy nghiêm và trang trọng “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, gắn liền với đỉnh cao muôn trượng nhưng giờ đây, với cái nhìn phi sử thi nhiều nhà thơ lớp trước (như Chế Lan Viên, Nguyễn Duy, Thanh Thảo) và nhiều nhà thơ trẻ (như Dư Thị Hoàn, Vi Thùy Linh, Nguyễn Huy Hoàng,…) thấy trong những trang sử hào hùng ấy bao điều mới mẻ. Chế Lan Viên- người đã từng ngợi ca về đất nước “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm! Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất. Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Khi Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn” nay trong Sử cũng ngậm ngùi: Ở đất nước ba tuổi đã rời nôi lên ngựa sắt Tuổi trẻ chơi lau đã chơi trò đánh giặc Kiếm làm cho con rùa không thể yên thân trong đời thường.
Chế Lan Viên dường như nhìn thấy từ lịch sử ngàn năm của dân tộc ít Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com nhiều những đau thương, mất mát ngay trong những ngày đầu dựng nước. Hay trong Trước tượng đài Ki-ép, Nguyễn Duy viết: Lịch sử dấu tro tàn trong cẩm thạch dấu cơn mưa nước mắt thấm trên đồng người chết trận chết oan và chết đói hồn hiện về làm hoa dại bên sông. Và rồi trong những trang trường ca của Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Trần Cương,Phùng Khắc Bắc tự do, hạnh phúc của dân tộc gắn liền với số phận, sự hi sinh của từng cá nhân: Cha đi vắng Những người đàn ông miền Trung thường đi vắng Vài năm tạt qua nhà một lần Để lại đứa con Để lại mùi rạ thơm trên mái nhà vừa dọi Để lại những nỗi buồn không biết nói Rồi biệt tăm. (Trầm tích- Đặng Trần Cương) Nhìn về dáng hình chữ S của đất nước Vi Thùy Linh- nhà thơ của tình yêu thấy hình đất nước giống như dáng người đàn bà hơi khuỵu chân, ngửa mặt, còn Đặng Trần Cương thì thấy: Đất nước Tượng hình xương cá Đêm úp Ngày đơm Nhảy vật lên bờ Thân gầy đét.
Cong mình chống nắng Lưng phồng rộp Thâm cả trời đông (Trầm tích- Đặng Trần Cương) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Viết về chiến tranh cũng là một đề tài lớn của thơ Việt Nam giai đoạn này. Trong chiến tranh, với cái nhìn lãng mạn, đậm chất sử thi anh hùng ca, các nhà thơ nhìn thấy muôn người Việt Nam như một, dồn tất cả cho tiền tuyến,cho miền Nam với tinh thần kiên cường, bất khuất: Tuốt gươm không chịu sống quỳ Tuổi xanh chẳng tiếc, sá chi bạc đầu. (Tiếng hát sang xuân - Tố Hữu) Chiến tranh vốn được coi là thước đo phẩm giá của mỗi người Việt Nam chân chính. Khi chiến tranh đi qua, thời gian không dừng lại và thời gian chính là khoảng lặng thẩm mỹ để mỗi người Việt Nam nhìn lại những cuộc chiến và nhìn lại chính mình, đặc biệt là những người lính.
Tuổi trẻ của họ hi sinh cho độc lập, tự do của tổ quốc, nay trở về họ phải đối mặt với biết bao khó khăn của thời hậu chiến như sự mất mát về thể xác, nguy cơ nghèo đói hay sự đụng độ với muôn mặt của đời sống. Thơ viết về chiến tranh, viết về người lính cụ Hồ giai đoạn này đã tập chung đi sâu vào những khó khăn ấy. Các tác phẩm tiêu biểu như Ngày hòa bình đầu tiên, Bài thơ riêng cho những người đã chết, Ra đi của Phùng Khắc Bắc, Nhìn từ xa…Tổ quốc của Nguyễn Duy, Ai? Tôi! của Chế Lan Viên hay Thím Hai Vui của Trần Nhuận Minh. Nhìn lại lịch sử và viết về chiến tranh như một vết thương chìm là một khuynh hướng thể hiện cái nhìn phi sử thi của thơ giai đoạn này.
Điều này cũng làm nên sự khác biệt của thơ giai đoạn này so với giai đoạn trước. * Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân với những lo âu đời thường Theo tác giả Nguyễn Đăng Điệp đây là xu hướng nổi bật nhất trong thơ sau 1975. Nếu như trước đây các nhà thơ ngại nói về cái tôi cá nhân thì đến giai đoạn này nhiều nhà thơ đã công khai bày tỏ nỗi buồn nhân sinh, chỉ có điều đó không phải là nỗi buồn thoát li thực tại như đã từng xuất hiện trong thơ mới (Ta là con nai bị chiều giăng lưới, Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối) mà đó là nỗi buồn gắn liền với thực tại. Ở đó có nỗi buồn từ ý thức tự đánh mất mình: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com - Người diễn viên ấy đóng trăm vai vai nào cũng giỏi Chỉ một vai không đóng nổi.
…Anh đóng giỏi trăm vai lại đánh mất mình. (Thơ về thơ- Chế Lan Viên) - Tôi chưa từng đi lạc Nên chẳng ai tìm thấy tôi Có phải trong bóng tối Tôi đã hóa đêm rồi? (Chìm- Nguyễn Thế Hoàng Linh) Đến nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý đến chuyện tồn tại mà “ xa dần truyện bớt dần thơ” (Nguyễn Duy) và có những trắc ẩn về riêng tư, về đôi lứa “ Em chết trong nỗi buồn- Chết như từng giọt sương- Rơi không thành tiếng” (Lâm Thị Mỹ Dạ), hay nỗi buồn của tình yêu không kết dính, thiếu mặn mà, thắm thiết kiểu hiện đại: Chúng ta là cá và nước Cá bơi và nước trôi Chúng ta là bánh mì và chả lụa Bán riêng và ăn chung. (Gửi VB- Phan Thị Vàng Anh) Song song với nỗi buồn là sự cô đơn. Sự cô đơn ấy xuất hiện dày đặc trong sáng tác của các nhà thơ nữ như : Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Đỗ Bạch Mai, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, Phạm Thị Ngọc Liên,.
Nhiều khi nỗi buồn của tôi như sợi len dài Quấn xiết vào trái tim hỗn loạn .Nhiều khi nỗi buồn của tôi xanh biếc như rêu Cứ nảy nở lan tràn dưới vực sâu tâm thức. (Nỗi buồn của chiếc bóng- Phạm Thị Ngọc Liên) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Trong giai đoạn này cái tôi cũng xuất hiện rất nhiều trên trang thơ, xong điều đáng buồn là cái tôi thường xuất hiện trong tư thế một mình, buồn, cô đơn, trống trải: Vẽ tôi mực rượu giấy trời Nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau Vẽ tôi thơ viết nửa câu Nửa câu ma quỷ đêm sâu gọi về… (Tự họa- Nguyễn Trọng Tạo) Vẽ tôi một nét môi cười Một dòng nước mắt một đời phù du (Vẽ tôi- Hoàng Phủ Ngọc Tường) Trong các nhà thơ có lẽ người cảm thấy hẫng hụt nhất, thấm thía nhất về nỗi buồn chính là Tố Hữu- nhà thơ với những trang thơ đã từng đi cùng lịch sử Việt Nam trong thế kỉ XX.