Chương 1: THƠ Y PHƯƠNG TRONG NỀN THƠ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Tiểu sử, sự nghiệp sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà thơ Y Phương 1. Tiểu sử Nhà thơ Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước. Ông sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 tại làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Nhà thơ đã tự giới thiệu về quê quán, cuộc đời của mình qua những vần thơ đặc sắc trong bài thơ Tên làng: “Con là con trai của mẹ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ Ba mươi tuổi từ mặt trận về Vội vàng cưới vợ” Làng Hiếu Lễ, nơi có “ngôi nhà xây bằng đá hộc” đã in đậm trong ký ức và gắn liền với tên tuổi của Y Phương. Vì vậy, ông còn có tên là “Người trai làng Hiếu Lễ”. Ông đã rất may mắn khi được chào đời đúng cái nôi của văn hóa xứ Tày, đó là xứ sở Cao Bằng non cao nước biếc. Ở nơi đây, những vỉa tầng văn hoá truyền thống dân tộc Tày được hiện lên vô cùng rõ nét trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân.
Đó cũng là nơi chứa đựng đầy những chiến công hiển hách của quân và dân ta trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc với những cái tên đã đi vào lịch sử như: Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái, Lê Văn Khôi, Nông Văn Vân…. Với bề dày lịch sử và văn hóa đa sắc tộc, Cao Bằng là mảnh đất đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam ta. Đó là Hoàng Đức Hậu, nhà thơ Tày sử dụng chữ Nôm Tày một cách thuần thục với 8 download by : skknchat@gmail.com nhiều sáng tác đặc sắc để lại cho đời sau. Đó là Bàn Tài Đoàn, nhà thơ Dao với Dặn vợ dặn con (1944), Muối cụ Hồ (1960)….Đó là Hoàng Triều Ân, nhà thơ Tày với Tung Còn và suối đàn (1963), Trên vùng mây trắng (2011)…Đó là Vi Hồng, người dân tộc Tày đã trở thành thầy giáo dạy Văn ở trường ĐHSP Việt Bắc, tác giả có 19 đầu sách với nhiều tác phẩm văn xuôi tiêu biểu: Người trong ống và Gã ngược đời (1990), Tháng năm biết nói (1993)…Đó là Cao Duy Sơn, dân tộc Tày, người viết văn xuôi thành công nhất của Cao Bằng với các tiểu thuyết như: Người lang thang (1992), Đàn trời (2006), Chòm ba nhà (2009)…Đó là Hữu Tiến, nhà văn Tày với 7 đầu sách được xuất bản, trong đó nhiều tập truyện đạt giải cao như: Trăng gần (1993), Ngọn suối chân rừng (1997), Đèo không lặng gió (2002)…Đó là Hoàng Quảng Uyên, người dân tộc Tày lấn sân vào nhiều lĩnh vực như viết văn, viết báo, viết kịch bản phim, phê bình văn học, có thể kể đến các tác phẩm đặc sắc: Thầy giáo đại học (1998), Vọng tiếng non ngàn (2011)…Ngoài ra, còn rất nhiều các nhà văn, nhà thơ khác như: Đoàn Văn Lư, Đoàn Minh Ngọc…Truyền thống văn học này có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của nhà thơ Y Phương.
Không chỉ vậy, Y Phương còn được sinh trưởng trong một gia đình trí thức dân tộc thiểu số, có truyền thống hiếu học. Cha ông là cụ Hứa Văn Cường biết chữ Nho, làm thầy tào và chữa bệnh điên cứu người. Ngày nhỏ, cậu bé Sước hiếu động đã theo cha gõ trống, đánh não bạt cho đám ma. Cha đã truyền dạy cho cậu tất cả những gì mà ông có được, đặc biệt là chữ viết của người Tày.
Chính vì vậy, ngay từ bé, cậu đã biết chữ Nôm Tày và hiểu nhiều hơn về đặc sắc văn học Tày. Mẹ Sước là bà Nông Thị Lộc - một phụ nữ đảm đang, tháo vát, hiểu biết rộng, hết lòng vì chồng vì con, luôn khích lệ con trai lòng can đảm, bản lĩnh, đứng vững trước thử thách của cuộc sống: “Hãy giữ mình như giữ lửa - Cứ ngồi - Đừng sợ bóng người cong” [13]. Hứa Vĩnh Sước lớn lên trong niềm từ hào về truyền thống của quê hương, gia đình. 9 download by : skknchat@gmail.com Lên 9 tuổi, Hứa Vĩnh Sước mới tập nói tiếng Kinh.
Niềm đam mê văn chương manh nha và phát lộ khi cha thấy cậu con trai nghiền ngẫm sách như một “con mọt”. Vĩnh Sước tâm sự “Tôi coi sách như bạn. Vì tôi không có hứng thú ham chơi thả diều, đá bóng như nhiều bạn cùng lứa…" [13]. Ngày ngày, cậu tiết kiệm tiền ăn sáng mẹ cho để mua sách về đọc.
Mỗi khi mệt mỏi hay chán trường, sách chính là người bạn tri kỷ giúp Vĩnh Sước vượt qua tất cả. Học hết cấp I, cấp II, đang học dở cấp III ở Trùng Khánh, chàng trai làng Hiếu Lễ đã có một quyết định táo bạo: tạm thời nghỉ học để nhập ngũ năm 1968 vào Binh chủng Đặc công. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã “kích hoạt”, “châm ngòi”, dung dưỡng, tạo nên hồn thơ cho chàng lính trẻ đặc công. Sau khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, anh quyết định tiếp tục thực hiện giấc mơ hồi trẻ, bước tiếp trên con đường học vấn dang dở.
Năm 1976, anh đầu quân vào Trường Điện ảnh Việt Nam. Năm 1982, niềm mong ước mới được thỏa nguyện khi là học viên của Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa II, 1982-1985). Anh say mê tiếp thu nguồn tri thức từ thầy, không quên học hỏi những bạn văn chương ở các vùng miền đất nước, như: Pờ Sảo Mìn, Phạm Ngọc Chiểu, Đức Ban, Phùng Khắc Bắc, Thanh Kim, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Trác. Năm 1986, Y Phương về nhận công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin Cao Bằng.
Từ đó, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng: năm 1991, ông được bầu làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Cao Bằng, năm 1993 ông là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng, ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa VI. Hiên nay, ông là ủy viên BCH hội Nhà văn Việt Nam, phó CT hội đồng thơ – hội Nhà văn Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác Vốn là có năng khiếu văn chương, Y Phương đến với thơ ca như một “định mệnh” không thể chối từ, như là duyên nghiệp và lẽ sống. Ông bắt đầu 10 download by : skknchat@gmail.com làm thơ và có sáng tác đăng báo từ khi còn là một chiến sĩ bộ đội đặc công.
Năm 1972 đơn vị mở cuộc thi Báo tường, Vĩnh Sước hăng hái gửi mấy bài thơ tham gia cùng đồng đội cho vui. Thật bất ngờ sau đó ít lâu, trong một chuyến đi chông tác, nhà thơ Văn Thảo Nguyên đã chọn 2 bài thơ của Y Phương có tên Bếp nhà trời và Dáng một con sông đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau khi trình làng hai bài thơ nói trên, sự nghiệp văn học của Vĩnh Sước bắt đầu cho những trái ngọt đầu tiên. Tên tuổi của ông thực sự được ghi dấu trên văn đàn với bài thơ Tiếng hát tháng Giêng.
Bài thơ đạt giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1984. Ông là một nhà thơ xuất sắc với sự nghiệp văn chương đáng khâm phục. Từ khi “bước chân” vào làng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đến nay, Y Phương đã là tác giả của 1 tập kịch, 7 tập thơ, 2 trường ca, 3 tập tản văn. Các tác phẩm tiêu biểu phải kể đến: * Các tập thơ Tiếng hát tháng giêng (1986), Lời chúc (1987), Đàn then (1996), Thơ Y Phương (2000), Thất tàng lồn – Ngược gió (Thơ song ngữ Việt – Tày, 2006), Bài hát cho sả (2011),Tủng Tày – Vũ khúc Tày (Thơ song ngữ Việt – Tày, 2016).
* Trường ca Chín tháng (1998), Đò trăng (2009) * Tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm (2009), Kungfu người Cô Xàu (2010), Fừn nèn – củi tết (2015). Với khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị như trên, Y Phương đã vinh dự được nhận nhiều giải thưởng cao quý: Giải A Hội nhà văn Việt Nam, 1987 (Tiếng hát tháng Giêng - thơ) Giải A Hội nhà văn Việt Nam, 1992 (Lời chúc - thơ) Giải B (không có giải A) Bộ quốc phòng, 2000 (Chín tháng - Trường ca) Giải Nhất cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984 (Chùm 11 download by : skknchat@gmail.com thơ: Phòng tuyến Khau Liêu, Tên Làng, Nói với con) và nhiều giải thưởng khác của Tuần báo Văn nghệ. Giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật (3 tập thơ Tiếng hát tháng giêng, Chín tháng, Lời chúc) Hồn thơ Y Phương là sự kết tinh từ khả năng nghệ thuật thiên phú, từ một quá trình lao động nghệ thuật gian khổ và đã trở thành lẽ sống, từ vốn văn hóa sâu rộng được khởi nguồn từ nền văn hóa Tày đặc sắc. Và sâu thẳm hơn cả là một tình yêu lớn dành cho quê hương đất nước của Y Phương.
Quan điểm nghệ thuật Y Phương là tác giả có nhiều trăn trở về sáng tác văn chương. Ông có những “tuyên ngôn” thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật của mình. Trong truyện ngắn “Đời thừa”, Nam Cao viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.
Với Y Phương cũng vậy, khi được hỏi về quan niệm sáng tác, nhà thơ thẳng thắn trả lời: “Sáng tác theo ý riêng: Tháo dòng nước tình cảm đang tràn trề ở trong con người” [54]. Ông cho rằng, văn chương không phải là sự lặp lại hay bắt chước. Sáng tác văn chương không phải là việc làm hùa theo những trào lưu chung mà phải là những sáng tác theo ý riêng. Người nghệ sỹ khi sáng tạo văn học cần thể hiện tình cảm cá nhân đang tràn trề trong chính bản thân mình.
Bởi thế, ta dễ dàng nhận thấy, các tác phẩm của Y Phương luôn gắn với chiều sâu thế giới nội tâm của ông. Y Phương tìm đến thơ để giãi bày những tâm tư, tình cảm của bản thân. Nhà thơ phát hiện ra ý nghĩa sâu xa trong từng sự vật, hiện tượng rồi truyền cảm xúc của mình cho người đọc. Để “tháo dòng nước tình cảm” trong lòng một cách thành công, trở thành tác giả có phong cách nghệ thuật riêng thì bản thân Y Phương không ngừng trau dồi tình cảm, vốn sống và nhân cách của mình.
12 download by : skknchat@gmail.com Y Phương quan niệm, văn chương là một trò chơi để phục vụ cho bản thân mình và mọi người: “Cho đến bây giờ, tôi vẫn cho văn chương là một thứ chơi. Chơi cho mình thích và cho người ta thích” [6; 252]. Mỗi khi buồn chán hay mệt mỏi, ông đều tìm đến thơ.