Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ 1. Khái quát về thơ Việt Nam từ đổi mới (1986) đến nay 1. Bối cảnh lịch sử xã hội Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra vào mùa xuân năm 1975 như một mốc son trong lịch sử dân tộc. Đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, nhân dân sum họp, niềm vui hoà hợp và hàn gắn vết thương chiến tranh diễn ra sôi nổi và kịp thời trên khắp mọi miền của cả nước, đặc biệt là những vùng quê trước đây bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
Với những thuận lợi và không ít khó khăn sau chiến tranh, nhưng cuộc sống hoà bình đã nhanh chóng đem lại sức sống mới trên khắp các miền quê của cả nước. Nhưng không lâu sau hoà bình, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam Tổ quốc diễn ra đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân và sự phát triển kinh tế của đất nước. Khi hai cuộc chiến tranh biên giới kết thúc, nhân dân ta lại tiếp tục gặp những khó khăn về thiên tai, bão lũ, hạn hán diễn ra trong nhiều năm, cùng với đó là những hạn chế về nhiều mặt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành đất nước của Đảng và Chính quyền. Do vậy, để khắc phục những khó khăn trên, Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược đối với đất nước thời kỳ này là phải tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Năm 1986 là mốc quan trọng đánh dấu sự sáng suốt về sách lược và chiến lược của Đảng để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, nhanh chóng khôi phục kinh tế, tạo ra không khí dân chủ cho toàn xã hội. Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá chính là bệ phóng để đưa đất nước nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế. Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, đất nước bước vào một thời kì mới - thời kì khôi phục, 11 download by : skknchat@gmail.com xây dựng và phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Đời sống của nhân dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần.
Vị trí Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định. Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình hội nhập quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt là nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc, đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp để hội nhập mà không bị hòa tan. Dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường cũng làm ảnh hưởng đến nhân cách của con người trong xã hội. Sự phân hóa giàu - nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội; dễ nảy sinh tham nhũng, tội phạm, bạo lực; kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý của một bộ phận người dân.
Các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm thay đổi cuộc sống nước ta. Nó tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy, văn học cũng không thể nằm ngoài xu thế chung ấy. Văn học không còn mang nặng tính ngợi ca mà đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều sự thật đau lòng.
Theo đó, cá tính sáng tạo của nhà thơ cũng được giải phóng triệt để hơn. Không thể phủ nhận một thực tế là cơ chế kinh tế thị trường đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhưng mặt khác, con người dường như sống với nhau lạnh lùng hơn, mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội lỏng lẻo hơn. Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải và mặt trái của nó khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống. Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật của thơ trong giai đoạn này.
Đầu tiên, các nhà thơ đã có ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo, do vậy thơ hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống. Khát vọng đổi mới ấy trong nghệ thuật đã được tiếp sức bởi công cuộc đổi mới của đất nước. Màu sắc duy lí khá đậm trong thơ cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan 12 download by : skknchat@gmail.com nghệ thuật mới của nhiều nghệ sĩ. Ý thức ấy bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ bản: thứ nhất, thơ ca đã bắt đầu bứt thoát khỏi những trận mưa trữ tình mang tính đơn thanh và sự ngọt ngào thường thấy trong thơ 1945-1975, để tiến đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc, mang tính đối thoại cao, giọng điệu thơ gần gũi với đời sống thường ngày; thứ hai, cái nhìn tỉnh táo của nhà thơ thực ra là cái nhìn giàu chất suy tư, là bề ngoài của một nỗi đam mê lớn bên trong.
Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ trong hoàn cảnh mới. Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị nhân sinh trong đời sống của con người bằng kinh nghiệm cá nhân. Các nhà thơ đã nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, phản biện những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới trong đời sống xã hội hiện tại. Đây là lí do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng “giải thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ.
Trong nghệ thuật, không phải mọi nhận thức chung về tư tưởng xã hội đều đồng nhất với những suy nghĩ cá nhân và văn bản văn học không phải là những văn bản tuyên huấn có tính hình ảnh. Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống. Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà phải hoá thân vào từng câu chữ và hình tượng. Đó là lý do khiến các nhà thơ sau 1986 chú ý nhiều hơn đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ.
Bên cạnh xu hướng đưa thơ gần với đời sống là một cực khác: Ý thức tạo ra tính nhòe mờ trong ngôn ngữ và biểu tượng. Xu hướng này muốn gia tăng chất ảo trong thơ, buộc người đọc phải giải mã các sinh thể nghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau. 13 download by : skknchat@gmail.com Công cuộc đổi mới đã mở rộng cánh cửa giao lưu, hội nhập với thế giới, và thơ, trước vận hội này, thơ cũng không thể nằm yên trong mô hình nghệ thuật cũ. Bắt đầu xuất hiện những giọng thơ lạ, đậm chất “Tây”.
Điều đó dẫn tới nhiều cuộc trạnh luận về “ta” và “tây” trong thơ kéo dài đến mấy năm sau sự kiện “Sự mất ngủ của lửa” (Nguyễn Quang Thiều) và thơ của một số nhà thơ khác như Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng. Các cây bút này có ý thức phá vỡ các chiều tuyến tính, tạo nên những dòng chảy đứt nối và gia tăng tính đồng hiện của các hình ảnh thơ hoặc cố gắng tỉnh lược các mối quan hệ bề nổi, đặt những hiện tượng khác nhau bên cạnh nhau và buộc người đọc tự xác lập mối lên hệ giữa chúng. Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ từ 1986 đến nay đã vận động một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa. Mặc dù, thơ chưa có được những đỉnh cao nghệ thuật nhưng có sự thay đổi về tư duy và nhận thức một cách toàn diện hơn.
Do vậy, thơ Việt Nam trong giai đoạn này đã thực hiện một cuộc tạo đà mạnh mẽ cho những kết tinh nghệ thuật trong các chặng đường tiếp theo. Thơ Việt Nam đương đại phát triển và diễn ra trong điều kiện lịch sử - xã hội đang có nhiều thay đổi nên việc xuất hiện nhiều khuynh hướng, trào lưu, trường phái là một điều cần thiết và hợp quy luật. Nó thể hiện sự kiếm tìm dân chủ và khát vọng đổi mới trong học thuật, sáng tạo để tạo ra sự đa dạng cho cả nền thơ và đa dạng trong bút pháp của từng chủ thể sáng tạo. Quan sát toàn cảnh, thơ Việt Nam đương đại, chúng ta chứng kiến sự tồn tại nhiều khuynh hướng và nhiều nhóm thơ.
Thậm chí có những nhà thơ có thể sáng tác theo nhiều khuynh hướng, ở nhiều nhóm thơ trong những thời khoảng khác nhau. Vì vậy, có tình trạng đan xen, cộng hưởng về thi pháp, khuynh hướng thơ. Nhưng trong tổng thể thơ Việt Nam đương đại có thể phân chia thành các khuynh hướng sau: (1) Khuynh hướng nghiêng về thi pháp truyền thống: Xuất hiện từ Thơ mới và thơ kháng chiến mà chủ thể chính là các nhà thơ trước 1945 và các nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Nhưng 14 download by : skknchat@gmail.com đến thơ Việt Nam đương đại, khuynh hướng này vẫn có ảnh hưởng không nhỏ tới sáng tác của các nhà thơ.
Mặc dù nghiêng về thi pháp truyền thống nhưng trong khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại vẫn có sự cách tân trong bút pháp nghệ thuật, cấu trúc bài thơ và hình ảnh.