Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hương: Phân tích thơ Bùi Thị Tuyết Mai tại Đại học Thái Nguyên

Khám phá luận văn thạc sĩ về thơ Bùi Thị Tuyết Mai, phân tích sâu sắc cảm hứng và nghệ thuật trong các tác phẩm, đặc biệt là bản sắc văn hóa Mường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: THƠ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ NỮ NHÀ THƠ DÂN TỘC MƯỜNG- BÙI THỊ TUYẾT MAI

1.1. Vài nét khái quát về thơ nữ dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại

1.2. Nữ nhà thơ dân tộc Mường- Bùi Thị Tuyết Mai

1.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ BÙI THỊ TUYẾT MAI

2.1. Khái niệm Cảm hứng và Cảm hứng chủ đạo trong thơ

2.2. Cảm hứng đầy tự hào viết về quê hương, cuộc sống, con người xứ Mường

2.2.1. Quê hương xứ Mường với vẻ đẹp đầy huyền tích, huyền thoại

2.2.2. Con người miền núi: mộc mạc, chân thành nhưng cũng rất lãng mạn

2.3. Cảm hứng viết về bản sắc văn hóa Mường với niềm yêu mến và tự hào

2.3.1. Bản sắc văn hóa Mường qua những phong tục tập quán

2.3.2. Tự hào về vốn văn hóa truyền thống của tộc người Mường

2.4. Cảm hứng viết về cái tôi cá nhân người phụ nữ Mường thời kỳ hiện đại

2.4.1. Cái Tôi cá nhân mang vẻ đẹp truyền thống

2.4.2. Cái tôi cá nhân - người phụ nữ trí thức Mường thời kỳ hiện đại

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT NỔI BẬT TRONG THƠ BÙI THỊ TUYẾT MAI

3.1. Hình ảnh thơ, biểu tượng thơ mang đậm màu sắc Mường

3.1.1. Hình ảnh thơ đậm màu sắc Mường

3.1.2. Những biểu tượng thơ mang đậm bản sắc Mường

3.2. Ngôn ngữ thơ

3.2.1. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, hồn nhiên, giàu hình ảnh mang màu sắc ngôn ngữ dân gian dân tộc Mường

3.2.2. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, giàu tính tạo hình

3.3. Giọng điệu thơ

3.3.1. Giọng thơ trữ tình, hồn nhiên, trong sáng, nồng nàn mà sâu lắng

3.3.2. Giọng thơ giàu chất suy tư, triết lí

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Thơ Bùi Thị Tuyết Mai Bản Sắc Mường 55kt

Thơ ca dân tộc thiểu số, đặc biệt là thơ nữ, đã tạo nên một mảng màu riêng biệt trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong đó, Bùi Thị Tuyết Mai, nữ nhà thơ dân tộc Mường, nổi lên như một giọng thơ độc đáo, phản ánh sâu sắc bản sắc Mường vừa truyền thống, vừa hiện đại. Luận văn thạc sĩ này đi sâu vào khám phá những yếu tố làm nên sự đặc biệt trong thơ Bùi Thị Tuyết Mai, đặc biệt là sự thể hiện văn hóa Mường và những đóng góp của bà vào thơ hiện đại Việt Nam. Nghiên cứu thơ Bùi Thị Tuyết Mai không chỉ là khám phá một cá tính sáng tạo, mà còn là tìm hiểu về một di sản văn hóa phong phú, đang được bảo tồn và phát huy trong văn học đương đại. Thơ Bùi Thị Tuyết Mai xứng đáng được nghiên cứu để thấy rõ hơn những đóng góp, những thành tựu của chị trong nền văn học dân tộc nói chung, cho thơ ca DTTS nói riêng. Việc nghiên cứu này không chỉ khẳng định những nét đặc sắc, đóng góp cụ thể của thơ Bùi Thị Tuyết Mai đối với thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, mà còn bổ sung tài liệu tham khảo cụ thể về các sáng tác của một trường hợp nhà thơ DTTS cụ thể trong mảng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, phục vụ công tác học tập, giảng dạy về văn học DTTS Việt Nam trong nhà trường.

1.1. Giới thiệu chung về thơ nữ dân tộc thiểu số hiện đại

Thơ nữ dân tộc thiểu số đã có những đóng góp quan trọng vào văn học Việt Nam hiện đại, với nhiều tác giả tiêu biểu như Nông Thị Ngọc Hòa, Dư Thị Hoàn, và Bùi Thị Tuyết Mai. Họ là những nhà thơ nữ thuộc các DTTS khác nhau. Ví dụ như: Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Ngọc Minh, Hoàng Diệu Tuyết (Tày); Dư Thị Hoàn (Hoa); Nga Rivê (H’rê); Chu Thùy Liên (Hà Nhì); Cầm Thị Lả, Sầm Nga Di (Thái), Hà Thị Cẩm Anh, (Mường). Nội dung chính trong sáng tác mà các cây bút nữ DTTS thời kì hiện đại đề cập tới là: Phản ánh chân thành, sinh động hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống và con người đồng bào DTTS vùng cao qua từng giai đoạn lịch sử với những biến cố và thăng trầm của đất nước cùng với lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc trong thời đại mới. Phong cách thơ của họ vừa mang tính hiện đại, vừa giữ được những nét riêng, đậm bản sắc dân tộc. Các tác phẩm được nhắc đến như Đóa hoa rừng của Hơ- vê (đạt Giải B của Hội nhà văn Việt Nam 1998); Bùi Thị Tuyết Mai có Mưa trong nhà (đạt Giải B của hội VHNT các DTTS Việt Nam 1998); Trầu đỏ môi ai (đạt Giải C của Văn học Hòa Bình 10 năm đổi mới); Thơ của họ vừa có tính hiện đại (trong cách diễn đạt, trong lối tư duy) vừa vẫn giữ được những nét riêng, mang đậm bản sắc dân tộc, nên nó “vừa lạ, vừa quen”, vừa truyền thống- vừa hiện đại, vừa mộc mạc, giản dị nhưng cũng mới mẻ, sâu sắc.

1.2. Đôi nét về nhà thơ Mường Bùi Thị Tuyết Mai và sự nghiệp

Bùi Thị Tuyết Mai là nhà thơ dân tộc Mường tiêu biểu, sinh năm 1971, tại Yên Thủy, Hòa Bình. Thơ của chị thấm đẫm văn hóa Mường, từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên. Các nhà thơ Vương Anh, Hà Trung Nghĩa, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thị Tuyết Mai. đã có những sáng tác phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống, con người vùng cao với những nét văn hóa đậm bản sắc Mường. Hiện nay ngoài công việc chính, chị rất tích cực sáng tác thơ và làm văn. Chị là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Hội viên hội VHNT các DTTS Việt Nam.Thơ ca không phải là nghề chính nhưng nó trở thành duyên nợ, là nghiệp vận vào thân. Vì thế chị viết rất nhiều, viết đều tay và các sáng tác của chị đều có chất lượng nghệ thuật. Chị đã từng tâm sự: “Khi nào về Hà Nội, tôi sẽ mang theo chiếc khung cửi. Mỗi lúc rảnh, tôi sẽ ngồi dệt vải cho đỡ buồn. Hơn nữa, dệt vải và làm thơ là hai trong ba âm thanh biểu đạt hạnh phúc của một đời người theo quan điểm của một người Mường”.

II. Vấn đề Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Thơ B

Mặc dù đã có nhiều bài viết giới thiệu và phê bình về thơ Bùi Thị Tuyết Mai, nhưng vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về sự nghiệp sáng tác của bà. Các bài viết hiện có thường chỉ dừng lại ở những nhận xét, đánh giá riêng lẻ, chưa đi sâu vào phân tích đặc điểm thơ Bùi Thị Tuyết Mai và sự thể hiện bản sắc Mường một cách hệ thống. Chính vì vậy, cần thiết phải có một công trình nghiên cứu có tính hệ thống, nghiên cứu một cách khá đầy đủ và thấu đáo hơn về thơ Bùi Thị Tuyết Mai- để chỉ ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, những nét đặc sắc, những giá trị nhiều mặt về thơ Bùi Thị Tuyết Mai. Việc thiếu vắng những nghiên cứu toàn diện đã hạn chế việc đánh giá đầy đủ những đóng góp của Bùi Thị Tuyết Mai vào thơ ca DTTS, cũng như vào việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường trong văn học.

2.1. Lịch sử nghiên cứu thơ Bùi Thị Tuyết Mai còn hạn chế

Trong khoảng hơn 20 năm qua, thơ của chị đã có khá nhiều bài viết giới thiệu, phê bình và trong nhiều công trình nghiên cứu chung về văn học dân tộc nhắc tới, điểm tới. Bước đầu khảo sát, chúng tôi nhận thấy có một số bài, một số nhận xét cụ thể về thơ chị như sau: 2.Trong các công trình trình nghiên cứu chung về văn học DTTS Việt Nam hiện của các nhà nghiên nhà nghiên cứu, lí luận phê bình như: Lâm Tiến, Trần Thị Việt Trung, Phạm Quang Trung, Hoàng An, Lộc Bích Kiệm, Cao Thị Hảo. khi viết khái quát về thơ ca các DTTS đều đã nhắc đến cây bút thơ dân tộc Mường- Bùi Thị Tuyết Mai với những lời trân trọng, đều khẳng định chị là một trong các nhà thơ DTTS trẻ tiêu biểu thế hệ 7x, có giọng điệu thơ riêng đậm chất Mường. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận xét đánh giá, những bài viết riêng lẻ chưa có tính hệ thống và toàn diện. Vì vậy, nhằm làm sáng tỏ những nét đặc sắc, những giá trị, những đóng góp đáng trân trọng, có ý nghĩa của Bùi Thị Tuyết Mai cho văn học DTTS nói chung, với thơ nữ DTTS nói riêng thì cần thiết phải có một công trình nghiên cứu có tính hệ thống, nghiên cứu một cách khá đầy đủ và thấu đáo hơn về thơ Bùi Thị Tuyết Mai- để chỉ ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, những nét đặc sắc, những giá trị nhiều mặt về thơ Bùi Thị Tuyết Mai.

2.2. Sự cần thiết của một luận văn thạc sĩ chuyên sâu

Luận văn thạc sĩ này ra đời nhằm khắc phục những hạn chế trên, cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về thơ Bùi Thị Tuyết Mai. Luận văn sẽ đi sâu vào phân tích những cảm hứng chủ đạo trong thơ Bùi Thị Tuyết Mai, cũng như những đặc điểm nghệ thuật nổi bật, từ đó làm rõ hơn sự thể hiện bản sắc Mường và những đóng góp của bà vào văn học Việt Nam. Mục đích: chỉ rõ những đặc điểm nổi bật, những sáng tạo độc đáo, cũng như những đóng góp của nữ nhà thơ trong việc làm đa dạng, phong phú hơn cho thơ ca DTTS Việt Nam hiện đại. Qua việc nghiên cứu thơ Bùi Thị Tuyết Mai- một nhà thơ nữ DTTS khá tiêu biểu thời kì hiện đại, chúng tôi muốn được đóng góp thêm một tiếng nói vào việc khẳng định những thành tựu cùng những nét đặc sắc của các nhà thơ nữ DTTS trong sự phát triển đa dạng, phong phú của thơ nữ Việt Nam thời kỳ hiện đại nói riêng, cũng như đối với sự vận động phát triển của thơ ca DTTS Việt Nam nói chung.

III. Cách Thể Hiện Bản Sắc Mường Trong Thơ B

Một trong những yếu tố làm nên sự độc đáo trong thơ Bùi Thị Tuyết Mai là sự thể hiện sâu sắc bản sắc Mường. Điều này được thể hiện qua nhiều khía cạnh, từ việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh mang đậm văn hóa Mường, đến việc phản ánh những phong tục tập quán, đời sống tinh thần của người Mường. Bản sắc văn hóa Mường không chỉ là một đề tài, mà còn là một phần không thể thiếu trong thế giới nghệ thuật của Bùi Thị Tuyết Mai, tạo nên một giọng thơ riêng biệt, giàu cảm xúc và ý nghĩa.

3.1. Ngôn ngữ thơ đậm chất Mường Từ ngữ hình ảnh biểu tượng

Thơ Bùi Thị Tuyết Mai sử dụng nhiều từ ngữ, hình ảnh, và biểu tượng mang đậm văn hóa Mường. Trong thơ Bùi Thị Tuyết Mai, người đọc dễ hình dung ra cuộc sống bình dị, mộc mạc, chân thành của những người dân nơi đây. Nói đến đặc trưng ẩm thực cũng như lao động sản xuất của người Mường chỉ cần khái quát một câu rất đặc trưng: "Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới" (Chú răng sữa).Thơ chị không chỉ là sự hoài niệm về quá khứ mà nó còn là sự trân trọng những hoài niệm trong quá khứ và ý thức về cội nguồn. Vì thế, trong thơ chị, hình ảnh một người phụ nữ Mường thật đa tình, đa cảm: Hoa ấm áp/ Nép vào cánh tay mùa đông khẳng khiu giá buốt/ Bởi vậy/ Em/ Khi khóc/ Khi cười/ Mây về phố/ Áo/ Khăn/ Xa núi/ Khói người/ Màu/ Chếnh choáng/ Men mưa (Lời say).

3.2. Phản ánh phong tục tập quán đời sống tinh thần người Mường

Thơ Bùi Thị Tuyết Mai không chỉ tự hào về con người và cảnh sắc quê hương với cảnh núi non hung vĩ, tươi đẹp mà chị còn rất tự hào bởi đó là miền đất của những con người, những tộc người có phong tục tập quán phong phú, đầy tính nhân văn. Cũng như các nhà thơ dân tộc khác, thơ Bùi Thị Tuyết Mai luôn ngời lên niềm tự hào về dân tộc mình- một dân tộc có nền văn minh lâu đời và giàu bản sắc. Niềm tự hào đó thể hiện qua cách cảm, cách nghĩ của chị khi chị viết một cách đầy thân thương, trân trọng về những phong tục tập quán, những nét đẹp truyền thống của dân tộc mình trong sang tác của mình. Ăn đưa xuống/ Uống đưa lên (Lời rượu); Ăn cốt tươi/ Chơi cốt thật (Người Mường)… Bản chất của người Mường là “ăn cốt tươi, chơi cốt thật”. Người Mường tin rằng tiếng đuống càng vang, càng rộn ràng bao nhiêu thì năm đó sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và dân làng gặp nhiều may mắn.

IV. Cảm Hứng Chủ Đạo Về Quê Hương Trong Thơ B

Cảm hứng về quê hương là một trong những cảm hứng chủ đạo xuyên suốt thơ Bùi Thị Tuyết Mai. Quê hương hiện lên trong thơ chị không chỉ là những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, mà còn là những ký ức tuổi thơ, những phong tục tập quán, những con người hiền hòa, chất phác. Tất cả những điều đó đã tạo nên một tình yêu quê hương sâu sắc, thể hiện qua những vần thơ chân thành, xúc động. Dù có đi đâu thì xứ Mường vẫn luôn gắn bó với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của chị. Nhà thơ đã rất tinh tế khi nhận ra sự chăm chỉ, khéo léo, cần mẫn xây nhà của cô gái như những chú ong. Người phụ nữ họ đã chăm lo cho cả gia đình, là người mang lại niềm vui, hạnh phúc, tiếng cười, sự yên ấm cho ngôi nhà, đôi khi họ trở thành chỗ dựa, là niềm tự hào của các ông chồng khi có những người vợ đảm đang tháo vát.

4.1. Vẻ đẹp thiên nhiên Mường Hùng vĩ thơ mộng huyền ảo

Trong các bài thơ của chị luôn thấp thoáng hình ảnh núi non xanh biếc, những nếp nhà sàn, những thửa ruộng, nương ngô, con suối, cọn nước, những tiếng mõ trâu lốc cốc: Đã thấy/ Những/ Mảnh/ Ruộng/ Bậc/ Thang/ Những con đường/ Mòn mõ trâu (Trở về); Ai về/ Quê trong nếp nhà sàn/ Khói vỗ/ Như mèo ru (Chiều nay ai về); Mời anh về mùa hội Mường em/ Rau cải đắng trên đồi biêng biếc/ Chiều đổ sương thơm lựng cá đồ (Mời anh). Đây con suối Mường Thàng/ Đôi bờ thơm nương rẫy (Cho con tắm nước Mường Thàng). Những thửa ruộng bậc thang đẹp như tranh vẽ, với màu xanh mơn mởn của ruộng lúa, nương ngô, của đồi rau cải đắng; những mái nhà sàn thoáng đãng ẩn hiện trong màu xanh của không gian của núi rừng thơ mộng, những chiều sương huyền ảo, thơ mộng . Nơi đó đã nuôi dưỡng một tâm hồn thơ, đã cho chị một trái tim nhạy cảm, dễ rung động trước cuộc đời.

4.2. Con người Mường Chất phác hồn hậu giàu tình cảm

Con người miền núi hiện lên trong thơ chị chất phác, hồn hậu, giàu tình cảm. Bản thân chị là người phụ nữ Mường- Bùi Thị Tuyết Mai có cách cảm nhận và khả năng diễn đạt khá riêng và độc đáo của người dân tộc thiểu số khi viết về tình yêu lứa đôi. Đối với Bùi Thị Tuyết Mai- tình yêu luôn luôn được thể hiện ở nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau như: nỗi nhớ, niềm mong mỏi da diết, sự đợi chờ thiết tha. và có một cái gì đó mang tính bản năng, rất mạnh mẽ, mãnh liệt, cuộn trào, bùng cháy từ bên trong: Như uống phải vò rượu dao cứa/ chum rượu ma lửa/ Như ăn phải miếng trầu nứa cạo/ miếng trầu ma khói/ Như trúng múi tên thuốc độc/ Mũi tên ma nước/ Như vướng vào cơn lốc/ Như mặt trăng bị gấu ăn (Nhớ).

4.3. Nỗi nhớ quê hương da diết của người con xa xứ

Niềm thương nỗi nhớ đối với quê hương miền núi bao giờ cũng bắt đầu là hình ảnh của núi đồi trùng điệp, của nương rẫy, của những ngọt ngào hương nếp xôi: Những mảnh nương hiền lành/ Đếm đủ khói sương mùa giáp hạt/ Chân đất cùng tôi chạy quanh mùa gặt/ Áo nâu cùng bà thơm ngọt nếp sôi (Nương quê tôi). Niềm thương nỗi nhớ quê hương miền núi còn thể hiện ở những hình ảnh của những cọn nước thong thả nhịp chày giã gạo. Cọn nước là chứng nhân của nền văn minh lúa nước; cọn nước còn là hơi thở, bóng dáng của Mường, thấp thoáng tâm hồn, tình cảm và sự chịu thương chịu khó, tính cần cù nhẫn nại của người vùng cao; Bên chiếc cọn thân thương, là những mối tình đơm hoa kết trái của những đôi lứa yêu nhau sau những đêm trăng hẹn hò; Cọn cũng là mối thắt khẳng định tình đoàn kết thắm thiết của bản trên, làng dưới.

V. Cái Tôi Cá Nhân Người Phụ Nữ Mường Trong Thơ 59kt

Ngoài cảm hứng về quê hương, cái Tôi cá nhân của Bùi Thị Tuyết Mai cũng là một yếu tố quan trọng làm nên sự độc đáo trong thơ chị. Chị không chỉ là một nhà thơ, mà còn là một người phụ nữ, một trí thức, một người con của dân tộc Mường. Tất cả những vai trò đó đã tạo nên một cái Tôi đa diện, phong phú, thể hiện qua những vần thơ vừa chân thành, vừa sâu sắc, vừa mang đậm bản sắc Mường, vừa thể hiện khát vọng vươn lên của người phụ nữ hiện đại.

5.1. Người phụ nữ Mường truyền thống Giữ gìn bản sắc văn hóa

Thơ chị luôn có sự chen lẫn, chuếnh choáng giữa triết lí nhân sinh hiện đại và cái nhìn về thế giới mộc mạc, hồn nhiên của vũ trụ Mường, văn hóa Mường. Thơ chị không chỉ là sự hoài niệm về quá khứ mà nó còn là sự trân trọng những hoài niệm trong quá khứ và ý thức về cội nguồn.Vì thế, trong thơ chị, hình ảnh một người phụ nữ Mường thật đa tình, đa cảm: Hoa ấm áp/ Nép vào cánh tay mùa đông khẳng khiu giá buốt/ Bởi vậy/ Em/ Khi khóc/ Khi cười/ Mây về phố/ Áo/ Khăn/ Xa núi/ Khói người/ Màu/ Chếnh choáng/ Men mưa (Lời say). Người phụ nữ ấy rất miền núi, rất dân tộc nên khi về chốn đô thành, vẫn còn muốn giữ nguyên cái “mầu” miền núi, cái mầu rất Mường ấy.

5.2. Người phụ nữ Mường hiện đại Khát vọng vươn lên hội nhập

Người phụ nữ dân tộc Mường với cái Tôi cá nhân mang vẻ đẹp vừa truyền thống vừa hiện đại mang những nét riêng của một con người bản lĩnh, sắc sảo, sôi nổi, chân thành, tinh tế và nhiều mộng mơ. Họ luôn có ý thức khẳng định vai trò, vị trí của mình trong quá trình hội nhập của dân tộc mình trong đời sống thời hiện đại của đất nước ngày hôm nay. Trước hết đó là quá trình hội nhập với cộng đồng dân tộc Việt Nam, với xã hội Việt Nam thời hiện đại. Các cây bút nữ không tách rời mình ra khỏi cuộc sống của người miền xuôi (kể cả cuộc sống khi đô thị mở cửa). Họ thực sự chủ động đón nhận cái mới bằng cách tự vươn lên để hòa nhập vào cuộc sống mới văn minh hiện đại mà không đánh mất bản sắc riêng vốn có của dân tộc mình- nếu như không muốn bị bỏ lại.

VI. Kết luận Giá trị và Tương Lai Thơ B

Luận văn đã đi sâu vào phân tích thơ Bùi Thị Tuyết Mai và sự thể hiện bản sắc Mường. Qua đó, khẳng định những đóng góp của bà vào thơ ca DTTS Việt Nam. Với giọng thơ độc đáo, giàu cảm xúc, và những giá trị văn hóa sâu sắc, thơ Bùi Thị Tuyết Mai xứng đáng được trân trọng và phát huy trong tương lai, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Thơ chị chính là tâm hồn một người phụ nữ Mường thời kỳ hiện đại, một trí thức Mường luôn trăn trở với một cái Tôi- vừa truyền thống, vừa hiện đại. Với những tập thơ đậm bản sắc Mường mà vẫn mang nét chung của tâm hồn, trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam- Bùi Thị Tuyết Mai xứng đáng là một nhà thơ nữ DTTS Việt Nam khá tiêu biểu, có những đóng góp đáng ghi nhận trong đời sống văn chương các DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại.

6.1. Tổng kết những đóng góp của Bùi Thị Tuyết Mai

Qua nghiên cứu khái quát về thơ ca dân tộc thiểu số thời kì hiện đại nói chung, thơ nữ dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại nói riêng và nữ nhà thơ Bùi Tuyết Mai chúng tôi nhận thấy: Thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam được hình thành và phát triển từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Với những tập thơ đậm bản sắc Mường mà vẫn mang nét chung của tâm hồn, trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam- Bùi Thị Tuyết Mai xứng đáng là một nhà thơ nữ DTTS Việt Nam khá tiêu biểu, có những đóng góp đáng ghi nhận trong đời sống văn chương các DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về thơ Bùi Thị Tuyết Mai

Luận văn chỉ là một bước khởi đầu trong việc nghiên cứu về thơ Bùi Thị Tuyết Mai. Trong tương lai, cần có thêm những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về các khía cạnh khác nhau trong thơ chị, như: phân tích thể loại thơ, tính dân tộc trong thơ, góc nhìn văn hóa trong thơ. . để khám phá những giá trị nghệ thuật và văn hóa của thơ Bùi Thị Tuyết Mai một cách toàn diện hơn. Qua những sáng tác của mình các nhà thơ dân tộc thiểu số, đã thể hiện tình yêu quê hương miền núi; tình yêu đất nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Với nhiều giọng điệu khác nhau, với cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đậm chất vùng cao, thể hiện cách cảm, cách nghĩ, cách nói, cách diễn đạt của những con người miền núi, thơ ca dân tộc thiểu số đã đóng góp vào vườn hoa thơ ca nói chung của dân tộc Việt những bông hoa đa sắc màu, tạo nên một mảng màu riêng biệt trong đời sống thơ ca Việt Nam hiện đại.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THƠ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ NỮ NHÀ THƠ DÂN TỘC MƯỜNG- BÙI THỊ TUYẾT MAI 1. Vài nét khái quát về thơ nữ dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại Thơ ca các DTTS đã tạo cho mình một màu sắc riêng biệt trong đời sống thơ ca Việt Nam hiện đại, trong số đó có sự góp mặt của khá nhiều các nhà thơ nữ DTTS. Họ là các nhà thơ nữ thuộc các DTTS khác nhau. Ví dụ như: Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Ngọc Minh, Hoàng Diệu Tuyết (Tày); Dư Thị Hoàn (Hoa); Nga Rivê (H’rê); Chu Thùy Liên (Hà Nhì); Cầm Thị Lả, Sầm Nga Di (Thái), Hà Thị Cẩm Anh, (Mường).

Các nhà thơ nữ Việt Nam đã xuất hiện trong đời sống thi ca dân tộc từ thời trung đại, phong kiến, nhưng đến những năm 80 của thế kỷ XX, thì các cây bút nữ DTTS mới xuất hiện trong đời sống thơ ca dân tộc. Tuy nhiên, mặc dù xuất hiện khá chậm, muộn hơn trong nền thơ ca dân tộc nói chung, thơ ca dân tộc miền núi nói riêng nhưng họ đã có sự phát triển nhanh chóng và mau lẹ về đội ngũ, về số lượng và chất lượng tác phẩm của họ cũng đã được dư luận độc giả đánh giá cao. Từ năm trước và sau 1986 những nhà thơ nữ mới chỉ được biết đến qua các tác giả như: Vi Thị Thu Đạm, Hoàng Thị Cấp, Trần Thị thu Nhiễu, Nông Thị Ngọc Hòa,Hoàng Diệu Tuyết (Tày); Dư Thị Hoàn (Hoa); Nga Rivê (H’rê); Chu Thùy Liên (Hà Nhì). nối tiếp là Thu Bình, Hoàng Kim Dung, Tạ Thu Huyền (Tày); Cầm Thị Lả, Sầm Nga Di (Thái); và đặc biệt là sự có mặt của thế hệ các nhà thơ trẻ như Bế Phương Mai, Đinh Thị Mai Lan, Hà Thị Hải Yến, Nông Thị Hưng, (Tày), Tòng Thị Hân,.

Đây có thể coi là giai đoạn thơ nữ dân tộc thiểu số phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng nhất về đội ngũ sáng tác (tuy nhiên một số dân tộc vẫn chưa có nhà thơ nữ của dân tộc mình). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Song song với sự phát triển nhanh và mạnh về đội ngũ, số lượng, chất lượng tác phẩm của các nhà thơ nữ ngày càng nhiều và được nâng cao hơn. Nếu như thế kỉ XX của những năm 90 chúng ta biết đến Lối nhỏ (1998) của Dư Thị Hoàn, một vài tập thơ nhỏ lẻ của Vi Thị Thu Đạm, Hoàng Thị Cấp, Trần Thị Thu Nhiễu, Nông Thị Ngọc Hòa. thì đến những năm cuối cùng của thế kỷ này đã xuất hiện nhiều tập thơ của các tác giả đại diện cho các dân tộc khác nhau.

Có thể kể đến một số tập thơ của các tác giả như Chu thùy Liên với Lửa sàn hoa (1998); Đóa hoa rừng của Hơ-vê; của Dư Thị Hoàn; Sông ngàn lau (2002) của Đoàn Ngọc Minh; Bế Mai Phương với Bài thơ cho cha (2003), Nông Thị Ngọc Hòa với Nước hồ mãi xanh (2004); Hoàng Thanh Hương có Tự cảm (2005); Đinh Mai Lan với Tiếng đàn đêm (2005); Nơi cất rượu (2005); Mường Trong (2006) của Bùi Thị Tuyết Mai; Lời cầu hôn của rừng (2008); Mùa trăng (2008) của Nông Thị Tô Hường; Hoàng Kim Dung với Khúc giao mùa (2008); Tạ Thu Huyền với Đầy vơi (2008); Phùng Thị Hải Yến với Thơ với bạn thơ (2012). Khoảng 30 năm trờ lại đây với sự phát triển mau lẹ, thơ DTTS đã tạo cho mình một mảng màu riêng biệt, một vẻ đẹp riêng độc đáo, góp phần làm phong phú thêm, đa dạng cho đời sống thơ ca dân tộc thiểu số, cho thơ nữ Việt Nam thời kì hiện đại. Đến thế kỉ XX xuất hiện nhiều tập thơ của các nhà thơ nữ dân tộc thiểu số ra mắt độc giả và có khá nhiều tập thơ được nhận Giải thưởng cao trong đời sống văn học Việt Nam. Điều này khẳng định sự đóng góp đáng quý và vị trí của nhưng cây bút nữ DTTS trong nền văn học DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại.

Các tác phẩm được nhắc đến như Đóa hoa rừng của Hơ- vê (đạt Giải B của Hội nhà văn Việt Nam 1998); Bùi Thị Tuyết Mai có Mưa trong nhà (đạt Giải B của hội VHNT các DTTS Việt Nam 1998); Trầu đỏ môi ai (đạt Giải C của Văn học Hòa Bình 10 năm đổi mới); Đầy vơi của Tạ Thu Huyền (giải B giải thưởng VHNT Lào Cai 2001), giải Khuyến khích Giải thưởng Phan Si Păng 2002), Sông ngàn lau của Đoàn Ngọc Minh (đạt Giải Khuyến khích của hội VHNT các DTTS Việt Nam 2002); Nông Ngọc Hòa với Trước gương (đạt giải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com C của hội VHNT các DTTS Việt Nam 1998, giải A của hội VHNT Phú Thọ 1995- 2000); Lời của lá (được tặng - giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2001, giải A của Hội VHNT Phú Thọ 2000- 2005); Vườn duyên đạt giải C Hội VHNT các DTTS Việt Nam 2002; Men qua cõi thiền Giải A của Hội VHNT các DTTS Việt Nam 2009; Tiếng đàn đêm của Đinh Thị Mai Lan (được giải B của Hội VHNT các DTTS Việt Nam 2007); Lời cầu hôn của rừng của Hoàng Thanh Hương (đạt giải B (không có giải A) của Hội VHNT các DTTS Việt Nam 2009 và giải C của Hội VHNT Lào Cai 2005- 2010). Nội dung chính trong sáng tác mà các cây bút nữ DTTS thời kì hiện đại đề cập tới là: Phản ánh chân thành, sinh động hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống và con người đồng bào DTTS vùng cao qua từng giai đoạn lịch sử với những biến cố và thăng trầm của đất nước cùng với lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc trong thời đại mới. Điều đầu tiên mà chúng ta nhận thấy trong các sáng tác của họ chính là tình yêu quê hương, đất nước, niềm tin tưởng và lòng trung thành và tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Nhắc đến điều này không thể không kể đến cây bút người Mông- Vừ Thị Dư đã có những câu thơ chân thật, tự nhiên khi ca ngợi lãnh tụ như: Nhờ mặt trời cộng với ánh trăng/ Soi sáng đất nước đêm ngày/ Nhờ Chính phủ và Hồ Chí Minh/ Lãnh đạo các dân tộc chúng mình/ Có mâm thịt đầy lại ca ngợi Đảng (Nhớ đến Chính Phủ).

Nếu như nhà thơ Hoàng Diệu Tuyết (Tày) thể hiện sự biết ơn đối với Đảng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xóa bỏ cách sống du mục của người dân: Nhà nhà vui no ấm/ Người người sống sum vầy/ Hạnh phúc trong tầm tay/ Bản định canh đổi mới/ Nhớ ơn Đẩng suốt đời (Thung lũng màu xanh) thì nhà thơ Bàn Thị Cúc (Dao) lại khẳng định vai trò to lớn của Đảng đã loại bỏ những hủ tục lạc hậu đeo bám trong cuộc sống hàng ngày của họ dó là hủ tục bắt con gái cạo trọc tóc (Mái tóc em) Hay Niê Phương (Ba Na) lại thể hiện sự xúc động trước tình cảm chân thành, gần gũi của các chiến sĩ bộ đội đã dạy họ cách đối đầu với kẻ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com thù khi buôn làng có giặc tới : Họ được cụ Hồ cho cái đầu nở hoa sung/ Cái đầu ấy bày cho dân làng trồng khoai/ Thì khoai mau lớn/ Bày phụ nữ nuôi gà/ thì gà lợn mau to/ Cái đầu ấy chỉ dân làng cầm giáo đánh Tây/ Thì thằng Tây chạy trốn (Thương người cộng sản). Bên cạnh đó các cây bút nữ còn tập trung khắc họa bức tranh thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ và hiểm trở nhưng cũng rất thơ mộng, trữ tình cùng với vẻ đẹp tâm hồn con người miền núi mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền. Vậy điều gì đã thôi thúc các cây bút nữ hướng ngòi bút của mình để tạo nên những câu thơ hay về những cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống con ngời mang đậm vẻ đẹp của miền sơn cước như vậy? Phải chăng đó chính là tình yêu tha thiết đối với quê hương, xứ sở? Đúng vậy, nguồn cảm hứng mãnh liệt trong các sáng tác của các cây bút nữ đó chính là viết về quê hương xứ sở- nơi họ được sinh ra và lớn lên, gắn bó máu thịt với núi rừng, nương rẫy, sông suối.thân yêu, đồng thời họ đã thể hiện được niềm tự hào, lòng tự tôn dân tộc và ý thức bảo tồn gìn giữ phát huy những giá trị truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa miền núi vào trong các trang thơ của mình. Dù đi đâu, về dâu thì quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong mỗi trái tim của mỗi nhà thơ, để họ có thể hát lên những khúc ca về quê hương yêu dấu của mình.

Ví dụ như Nông Thị Ngọc Hòa với những câu thơ: Bậc ruộng ngô lúa xanh non/ Nhà sàn ra vào không cúi/ Thoáng đãng bốn bề gió thổi/ Cho rừng cho núi mơ trăng (Bậc thang); hay trong bài Mùa hoa mận của Chu Thùy Liên: Cành mận bung trắng muốt Nhà trình tường ủ hương xôi nếp/ Giục lửa hồng nở hoa trong bếp/ Cho người đi xa nhớ lối trở về; Hoặc những câu thơ tràn đầy hương vị miền núi của Phùng Thị Hải Yến: Con về./ Bập bùng bên bếp lửa dáng mế yêu/ Dấu hỏi oằn in trên vách nứa/ Mùi cá nướng cơm lam vừa chín/ Vị quê hương hóa mặn/ Hay giọt nước mắt con lăn trên núi quê mình (Vị Quê). Bên cạnh đó, hình ảnh con người miền núi cũng đã đi sâu vào trong các sáng tác với những phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống của các DTTS như: hiền lành, thơ mộc, cả tin, nhưng cũng rất tài hoa, mạnh mẽ, dũng cảm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Họ là ai? Họ chính là những người cha, người mẹ miền núi luôn lo toan, vất vả, chịu thương, chịu khó không quản gian khó để chăm nuôi gia đình với những đứa con: Bóng mế còng lưng trảy ngô/ Cỗi cằn dốc đá/ Gùi lúa chín trên lưng/ Chở bao nhiêu mồ hôi nước mắt/ (Vị quê- Phùng Hải Yến); Vết chai tay dày thêm/ lưng cha thì còng xuống/ Đường cày thì phẳng/ Đời cha gập ghềnh (Lời cha- Bàn Kim Quy); Ngủ đi/ Đôi chân quen leo dốc ngược (Ru con- Bùi Thị Tuyết Mai); Họ còn là những cô gái xinh đẹp, dịu hiền, đảm đang, tháo vát mang vẻ đẹp khỏe khoắn đầy tính phồn thực: Lũ con gái ngực như quả núi (Bụng ta đỏ lửa- Sầm Nga Di); Bàn tay ta ngày ngày/Vun vén chồng con/ Đệm ấm chăn êm/ Rau mềm cơm rẻo/ Mặn mà như suối (Thuổi chéo -Tòng Thị Hân).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ