Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI THỜI KÌ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1. Khái niệm thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra. Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân, thiện, mĩ của chủ thể sáng tạo. Ở “Liên Xô cũ” vào những năm 70 đã có một số công trình nghiên cứu theo hướng này như công trình: Thế giới nghệ thuật của M.Gorki, Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp…Ở Việt Nam, khái niệm này được nhắc đến vào những năm 80 nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội hàm khái niệm của nó.
Năm 1985, trong luận án Tiến sĩ khoa học: Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội trong VHVN hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật như sau:“Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mĩ. Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật. Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực,tư tưởng, tình cảm của nhà văn.
Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó. Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người…là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 lịch sử đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình”[48,86]. Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ.
Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm này sẽ là những gợi ý hết sức quý báu cho chúng tôi trong quá trình triển khai luận văn. Năm 1992, nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa:“Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu).Thế giớ nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng tư tưởng, nghệ thuật.Thế giới nghệ thuật có thời gian, không gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị…”[5,303]. Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới, nó giúp cho người đọc hình dung ra tính độc đáo về tư duy nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Như vậy, thế giới nghệ thuật là một mô hình nghệ thuật thể hiện quan điểm, lập trường, cách nhận thức thế giới.
của người nghệ sĩ. Dựa vào các khái niệm thế giới nghệ thuật nêu trên chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì trước Cách mạng tháng Tám ở các phương diện sau: Thế giới nhân vật (thế giới nhân vật và thế giới loài vật), không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Tô Hoài và hành trình 70 năm viết 1. Vài nét về tiểu sử và con người nhà văn Tô Hoài * Về tiểu sử Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 (tức 16/8 âm lịch năm Canh Thân) tại một làng quê nghèo bên dòng sông Tô Lịch: Làng Nghĩa Đô, Phủ Hoài Đức (tỉnh Hà Đông cũ) nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Ngoài ra, ông còn có một số bút danh như: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa. Xuất thân trong một gia đình nghèo với nghề dệt lĩnh truyền thống, từ nhỏ Tô Hoài đã cùng mẹ và chị gái rong ruổi khắp các chợ để bán lụa. Cha ông, do hoàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 cảnh nghèo túng đã bỏ nhà vào Sài Gòn hi vọng lập nghiệp rồi ở luôn trong đó không về nữa.
Gánh nặng gia đình đè lên vai người mẹ…Nhà nghèo, học hết bậc tiểu học, Tô Hoài đã sớm bươn trải trên đường đời và làm rất nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như: thợ thủ công, dạy học tư, bán hàng, kế toán hiệu buôn…Vậy là Tô Hoài lớn lên trong cái đói khổ, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần. Chính hoàn cảnh xuất thân và những trải nghiệm cuộc sống đã giúp cho nhà văn có vốn kiến thức thực tế sâu sắc để đưa vào những trang viết của mình một cách chân thực và thấm đượm tình yêu thương. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước oằn mình dưới gót giầy của chế độ phong kiến thực dân, Tô Hoài được tận mắt chứng kiến nỗi khổ của người dân nơi thôn quê. Cầm bút viết văn, ông đã bày tỏ thái độ cảm thông, chia sẻ với quê nghèo bằng một tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng.
Hiểu được nỗi thống khổ của người nông dân dưới sự kìm kẹp của chế độ xã hội bất công, Tô Hoài đã sớm có ý thức về thời cuộc và quyết định đi theo lý tưởng cách mạng. Năm 1936, chịu ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân, Tô Hoài tham gia hoạt động trong các tổ chức Ái hữu thợ dệt và Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội, dạy học truyền bá chữ quốc ngữ. Những sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ Bảy vào cuối những năm 30. Năm 1943, Tô Hoài tham gia hoạt động trong Hội văn hoá Cứu quốc và Phong trào Việt Minh, viết bài cho báo bí mật.
Sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, ông lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, sau đó về công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1957 đến 1980, ông liên tục tham gia công tác lãnh đạo Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1966 đến 1996, ông đảm nhiệm nhiều chức trách xã hội khác.Với sự cống hiến của mình, ông đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương trong hoạt động Cách mạng và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 về văn học nghệ thuật. * Về con người Các nhà văn cùng thời và bạn đọc trẻ khi tiếp xúc với Tô Hoài đều nhận thấy: ông là một con người điềm đạm, cởi mở luôn xuất hiện với nụ cười “tủm tỉm” trên môi, rất có “duyên”.
Đặc biệt, ở ông, luôn toát lên sự thông minh, hóm hỉnh, rất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 đỗi trẻ trung và gần gũi. Ông là người có khả năng quan sát nhạy bén và tinh tế như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét:“Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt”[19,203]. Trong một cuộc phỏng vấn, Tô Hoài đã khẳng định:“Tôi là người chịu khó học hỏi”[18,196]. Những kiến thức mà nhà văn có được là học từ trong sách và học ngay trong chính bản thân cuộc sống.
Cho đến nay, ông đã sáng tác được hơn 160 đầu sách, viết khoảng 1000 bài báo. Tô Hoài là một tấm gương sáng về ý thức lao động nghiêm túc, cần mẫn và rất đáng kính nể, “hiếm có ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được”[19,21]. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài * Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám Tô Hoài đến với nghề văn khá sớm. Mười bảy, mười tám tuổi ông đã có một số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy.
Những bài thơ non nớt về nghệ thuật như thế đã giúp ông hiểu mình và nhanh chóng chuyển hướng. Từ giã vườn thơ, ông đến với cánh đồng văn xuôi, từ chân trời lãng mạn, ông đến với chủ nghĩa hiện thực nhưng chất trữ tình vẫn là một phần không thể thiếu trong những trang viết của Tô Hoài. Tô Hoài lớn lên trong cuộc sống nghèo nàn vất vả. Cảnh sống thiếu thốn của bản thân và gia đình đã chi phối cách viết của ông, khiến ông khó có thể thả hồn phiêu diêu vào thế giới thơ mộng của “chàng” và “nàng” như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo…Sống trong môi trường Nghĩa Đô, những người dân quê cần lao chất phác và những cảnh đời điêu đứng, cùng quẫn của họ đã trở thành đối tượng phản ánh của Tô Hoài.
Nước lên, truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài được đăng trên Hà Nội tân văn đã miêu tả những cảnh nhà văn được chứng kiến tận mắt trong chuyến đi hộ đê ở Tứ Tổng: cảnh canh đê, các gia đình ven sông Hồng điêu đứng trong mùa nước “người lớn và trẻ con rúc ráy trên vệ cỏ”. Là “bà đỡ” cho những sáng tác đầu tiên của Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan - ông chủ tờ báo Hà Nội Tân Văn đã xếp Tô Hoài vào nhóm “các tác gia tả chân”. Và chưa đầy bốn năm, ở tuổi đời ngoài hai mươi, ông “viết như chạy thi” được tám đầu sách. Tiêu biểu là các tập truyện ngắn: Nhà nghèo (1941), O chuột (1942); các tiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 thuyết: Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Giăng thề (1941), Quê người (1942), Xóm giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944).
Sáng tác của ông thời kỳ này tập trung vào hai đề tài chính: truyện loài vật và truyện kể về làng quê tác giả. Trong những truyện ngắn về loài vật, Tô Hoài miêu tả những con vật bé nhỏ gắn bó với sinh hoạt con người: những gã chuột bạch “bằng quả nhót và cũng mũm mĩm như thế” (Truyện gã chuột bạch), những con mèo mướp “lừ đừ và nghiêm nghị tựa một ông thầy giáo nhà dòng”, những con chó “lèm bèm, ủng oẳng, sinh sự nhỏ nhen”(O chuột)…Dưới ngòi bút của Tô Hoài, những con vật ấy cũng có tình cảm, cá tính và cả tâm trạng, số phận nữa.