phần Mở đầu, phần Kết luận, luận văn gồm ba chương: 6 Chương1: Khái lược về ký và hành trình sáng tác ký của Hà Minh Đức Chương 2: Cuộc sống và con người trong ký của Hà Minh Đức Chương 3: Nghệ thuật ký Hà Minh Đức 7 CHƢƠNG 1 KHÁI LƢỢC VỀ KÍ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC KÍ CỦA HÀ MINH ĐỨC 1. Khái lƣợc về kí 1. Khái niệm và những đặc điểm thể loại Bakhtin từng nói: “Trong văn học, các thể loại luôn được đặt trong mối quan hệ bình đẳng về giá trị nghệ thuật song mỗi thể loại là sự thể hiện một thái độ thẩm mỹ với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người”. Từ trước đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau khi xem xét lịch sử phát triển của văn học.
Trong đó, một số ý kiến cho rằng lịch sử phát triển của văn học chính là lịch sử ra đời của các thể loại. Bởi vì mỗi thời đại có những đặc điểm lịch sử khác nhau nên cũng đặt ra các yêu cầu khác nhau với các tác giả sáng tác. Vì thế, không chỉ nội dung phản ánh mà hình thức của các tác phẩm cũng phải thay đổi để phù hợp với nội dung, cũng là đáp ứng những nhu cầu khác nhau của thời đại và con người. Ý kiến trên của Bakhtin cũng có thể nói là sự đồng ý với quan điểm: lịch sử văn học là lịch sử ra đời của các thể loại.
Chính vì vậy, không thể khẳng định rằng thể loại nào hiện đại và quan trọng hơn thể loại nào, mà chỉ có thể khẳng định rằng trong một giai đoạn lịch sử nhất định, thể loại nào phù hợp hơn. Như vậy, có thể nói, mỗi thời đại đã sản sinh ra dạng thức văn học mang đặc tính của nó. Trong đó, kí văn học là dạng thức văn học mang đặc tính thời đại của chúng ta: bận rộn, đa dạng và nhiều biến hoá. 8 Có thể nói, kí là tên một nhóm thể tài nằm ở phần giao thoa giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại), chủ yếu là văn xuôi tự sự.
Xét về mặt từ vựng, ký là sự ghi chép những điều trông thấy, những điều được chứng kiến, mắt thấy tai nghe hay những sự thật, việc thật. Bởi vậy, xét về mặt lịch sử, ký ra đời từ rất sớm. Trước khi có báo chí đã có các tác phẩm ký, chẳng hạn các tác phẩm ký của văn học Trung Quốc hay với xã hội Nga vào giữa thế kỉ XIX có nhiều hỗn loạn, chế độ nông nô sụp đổ, quý tộc suy đồi, tầng lớp hạ lưu bị bần cùng hoá, ký là một trong những thể loại chủ đạo của văn học. Trong xã hội Anh đầu thế kỉ XVIII, khi các tạp chí đăng những bài phác họa chân dung và cảnh sinh hoạt với mục đích châm biếm đã trở thành ngọn nguồn cho sự nở rộ của thể loại ký.
Xã hội càng hiện đại, ký càng trở nên quan trọng bởi vì nó bắt kịp và đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng, từng ngày. Xét về mặt phân loại, có thể chia ký thành nhiều loại khác nhau, trong đó, các thể loại chính có thể kể đến là: ký sự, hồi ký, bút ký, tuỳ bút. Trong đó, ký sự là một thể của kí thiên về tự sự, ghi chép các sự kiện hay kể lại câu chuyện vừa mới xảy ra. Ký sự có cốt truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh, cũng là loại thể có các yếu tố trữ tình xen lẫn với chính luận, yếu tố phi cốt truyện không nhiều.
Ký sự là bức tranh toàn cảnh trong đó sự việc và con người đan chéo, những gương mặt nhân vật không thực sự rõ nét. Bút kí là một thể loại của ký, nằm trung gian giữa ký sự và tuỳ bút. Bút ký thiên về ghi lại những cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe trong các chuyến đi. Bút ký tái hiện con người và sự việc một cách phong phú, sinh động, qua đó, biểu hiện khá trữ tình khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, có màu sắc trữ tình.
9 Hồi ký là sự ghi lại diễn biến của câu chuyện, nhân vật theo bước đi của thời gian qua sự hồi tưởng của con người. Hồi ký là những ghi chép có tính chất suy tưởng của cá nhân về quá khứ. Sự kiện trong hồi ký có thể do tác giả tưởng tượng thêm. Tùy bút là một dạng khá đặc biệt của ký.
Cũng là sự biểu hiện và phản ánh hiện thực cuộc đời, đặc biệt là những sự vật, hiện tượng hay những sự kiện đã và đang diễn ra, song ở thể loại tùy bút, người nghệ sĩ khá tự do trong việc biểu hiện cái tôi cá nhân riêng biệt và độc đáo của mình thông qua các thủ pháp nghệ thuật, việc điều chỉnh và sử dụng ngôn từ. Tùy bút nghiêng hẳn về phía trữ tình với điểm tựa là cái tôi cá nhân của tác giả. Như vậy, có thể nói, mặc dù bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau song một điểm chung có thể thấy ở ký đó là những yêu cầu về chất hiện thực và nhiệm vụ nắm bắt được hơi thở của thời đại. Trước đây, ký thường bị xem nhẹ.
Một số quan niệm cho rằng những nghệ sĩ không thể sáng tác các thể loại khác thì mới đi vào viết ký. Tuy nhiên, sự tồn tại và phát triển không ngừng của kí đã khẳng định điều ngược lại hoàn toàn. Trong quá trình viết ký, để viết được hay là điều cực kì khó khăn bởi vì tác giả vừa phải phản ánh một cách chân thực về hiện thực được chứng kiến, vừa phải tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn cho độc giả. Về đặc trưng nghệ thuật của ký cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Tuy nhiên, tựu trung lại, ký là một thể loại nằm giữa văn học và báo chí. Chính vì vậy, nó vẫn bao gồm đặc trưng của cả hai thể loại này. Có thể nói, ký có mối liên hệ chặt chẽ, sâu xa với hiện thực xã hội. Nguyên tắc tiếp cận và phản ánh cuộc sống là cơ sở để tìm hiểu đặc điểm của thể loại ký.
Ký quan tâm đến đời sống ở nhiều chiều, nhiều đặc tính. Nguyên tắc tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả là yêu cầu quan 10 trọng của thể loại này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là kí loại bỏ hoàn toàn sự hư cấu của tác giả. Ở ký, sự hư cấu cần được kiểm soát và vận dụng có chừng mực, hợp lí.
Giá trị của tác phẩm kí không nằm ở chỗ tác phẩm đó hư cấu nhiều hay ít mà là việc tác giả vận dụng hư cấu đó như thế nào để truyền tải tư tưởng đến người đọc, người nghe. Chính vì những đặc trưng hết sức quan trọng ấy, kí đã vượt qua báo chí, trở thành một thể loại văn học vừa chính thống, vừa mang tính tư tưởng cho thời đại. Đọc các tác phẩm kí văn học, chúng ta có thể thu nhận được nhiều hơn những đặc tính của thời đại, của hiện thực xã hội đang diễn ra bởi khả năng lôi cuốn và thu hút người đọc của kí là điều không c ần phải khẳng định thêm. Ngay trong ý thức của các nhà văn khi sáng tác bằng thể loại kí, chắc hẳn đều xác định được điều này bởi nếu không, tác phẩm kí không hơn gì sự ghi chép một cách đơn thuần về những gì đang diễn ra xung quanh con người.
Ký cho phép tái hiện những thời đoạn lịch sử đã qua trong tiến trình phát triển xã hội thông qua những bình diện mà nó đề cập. Có những tác phẩm chủ yếu miêu tả các phong tục tập quán, có những tác phẩm chú ý miêu tả những nét tính cách xã hội, có những tác phẩm mang tính triết lý, có những tác phẩm mang âm hưởng trữ tình. Kết cấu của ký rất đa dạng, có thể là mô hình người kể chuyện để tạo sự thống nhất cho các thành phần, câu chuyện trong tác phẩm cũng có thể lấy các đoạn mô tả, các đoạn bình luận để làm phương tiện ráp nối các sự kiện. Như vậy, có thể nói, ký là một thể loại văn học gắn liền với sự thay đổi và những biến động của cuộc sống con người trong những giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau.
Với những đặc trưng rất riêng của mình, ký không chỉ làm phong phú thêm cho các thể loại văn học mà còn ngày càng 11 khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của mình trong việc biểu hiện và phản ánh thế giới. Thể kí trong văn học Việt Nam Như trên đã nói, ký xuất hiện từ rất sớm. Và, cũng như các thể loại khác, qua từng thời kì khác nhau, ký cũng có sự bién đổi để phù hợp hơn với trước hết là nhu cầu thể hiện và phản ánh của người nghệ sĩ, sau nữa là đáp ứng những nhu cầu khác nhau của độc giả. Ở Việt Nam, ký cũng xuất hiện sớm, từ thời kỳ văn học trung đại dưới sự ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện của văn học Trung Quốc.
Trong văn học trung đại Việt Nam, những tác phẩm ký tiêu biểu có thể kể đến đó là: Thượng kinh kí sự (Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ)… Cùng với sự phát triển của văn học qua các thời kì lịch sử của dân tộc, ký cũng không ngừng phát triển. Với tính chất là một thể loại coi trọng tính khách quan và khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống, một điều tất yếu là ký luôn luôn gắn liền với những thăng trầm, đổi thay của lịch sử dân tộc. Thời kỳ 1930 - 1945 đã chứng kiến sự phát triển mạnh của thể loại phóng sự, đặc biệt là phóng sự về các tệ nạn xã hội. Đó là Tôi kéo xe (Tam Lang), Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng), Việc làng, Tập án cái đình (Ngô Tất Tố).
Đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với các thể loại khác như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, ký đã tạo nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam hiện đại, nắm bắt được một cách kịp thời, chính xác những đổi thay cũng như hơi thở của thời đại. Thời kỳ này, các tác phẩm ký đã xuất hiện với số lượng lớn, chất lượng cao như: Ký sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng, 1951), Truyện và ký sự (Trần Đăng, 1954), Nhật kí Ở rừng (Nam Cao, 1956). Trên văn đàn Văn học 12 Việt Nam thời kỳ này, đã khẳng định tên tuổi Nguyễn Tuân - một tác giả văn học xuất sắc, một nghệ sĩ ngôn từ.