Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu, động cơ, lợi ích Nhu cầu: Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S.
Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh. Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt.
Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng "cái gì đó" chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu.
Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu". Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn. Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa.
Tuy nhiên, 16 để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện. Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau.
Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết rằng: "Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn". Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội.
Hệ thống nhu cầu rất phong phú và đa dạng, song cơ bản, nó được chia thành 02 nhóm chính là: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất: là những nhu cầu sinh lý như ăn, mặc, ở, đi lại… Nhu cầu tinh thần: là những nhu cầu xã hội (nhu cầu giao tiếp), nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện… Nội hàm của các nhu cầu này luôn vận động, biến đổi và cùng với thời gian, có thể phát sinh thêm các nhu cầu mới. Người lao động luôn mong muốn được thỏa mãn càng nhiều nhu cầu càng tốt, nhưng việc thỏa mãn chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và không phải lúc nào họ cũng được thỏa mãn nhu cầu đầy đủ. Mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc tạo ra đó gọi là lợi ích mà người lao động nhận được.
Có 2 dạng lợi ích đó là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; trong hầu hết trường hợp, lợi ích càng cao thì động lực lao động càng lớn. Có thể hiểu nhu cầu chính là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau (nguồn: wikipedia. 17 Động cơ: “Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ” (trang 56.
Giáo trình Tâm lý học lao động, trường Đại học Kinh tế Quốc dân). Động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng. Hiểu một cách khác, động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động con người (cộng đồng, tập thể, xã hội), là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra.
Động cơ lao động là thái độ, ý thức chủ quan của con người đối với hành động của mình. Xuất phát từ việc xác định mục đích hành động, động cơ lao động có thể có các dạng như: Động cơ trí hướng: xuất phát từ ước mơ, hoài bão bên trong con người, đây chính là động cơ thúc đẩy con người mạnh mẽ. Động cơ bên ngoài: là điều kiện thúc đẩy bên ngoài đối với con người được biểu hiện dưới dạng các vật chất và tinh thần thúc đẩy con người hành động. Động cơ lý tính: xuất phát từ suy nghĩ một cách đẩy đủ, hiểu biết một cách tường tận.
Động cơ cảm tính: do bên ngoài thúc đẩy lôi kéo. Lợi ích: Vấn đề lợi ích từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà triết học và khoa học xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin. Nhất là thời gian gần đây, trong các tài liệu khoa học của các nhà lý luận thuộc Liên Xô, xung quanh vấn đề lợi ích đã có sự thảo luận một cách khá sôi nổi. Mặc dù còn có một số điểm chưa được nhất trí, nhưng về cơ bản, những nghiên cứu về vấn đề này đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.
18 Trả lời câu hỏi: Lợi ích là gì? Có rất nhiều ý kiến khác nhau, dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng chung quy lại, có thể nêu 2 hướng cơ bản là, một số tác giả quan niệm lợi ích là một sự biểu hiện khác của nhu cầu; những tác giả khác lại trình bày quan niệm cho rằng, mặc dù gắn bó chặt chẽ với nhu cầu, nhưng lợi ích mang nội hàm và ngoại diên hoàn toàn mới. Với hướng thứ nhất: có thể nêu một số ý kiến tiêu biểu sau: K. Isabekov cho rằng: “Chủ nghĩa Marx hiểu lợi ích như là nhu cầu khách quan được chế định bởi vị trí xã hội của một cá nhân, một dân tộc, một nhóm xã hội nào đó”.
Aizikovich, cũng tương tự như thế, lợi ích là nhu cầu được quyết định bởi xã hội. Pripisnov khẳng định: “Lợi ích là sự phản ánh chủ quan những nhu cầu tồn tại khách quan”. Gnilickij tán thành ý kiến này và ông coi: “Lợi ích là mối quan hệ lựa chọn đã được nhận thức của nhu cầu”. Bên cạnh các tác giả quy lợi ích vào nhu cầu, ta còn gặp các ý kiến cho rằng lợi ích là “hình thức chủ quan thể hiện các quan hệ kinh tế khách quan”.
Như vậy, ngay trong số các tác giả coi lợi ích là một sự biểu hiện khác của nhu cầu cũng có những quan niệm khác nhau. Sự khác biệt đó là: 1) một số tác giả khẳng định lợi ích chính là các nhu cầu tồn tại khách quan; 2) một số tác giả khác lại cho rằng lợi ích là sự phản ánh chủ quan của các nhu cầu tồn tại khách quan; 3) có tác giả lại khẳng định lợi ích là hình thức chủ quan của các quan hệ kinh tế khách quan. Với hướng thứ hai: các ý kiến phát biểu phong phú hơn và cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Chesnocov: “Lợi ích là mối quan hệ khách quan của xã hội hay của một con người riêng lẻ với điều kiện sống xã hội và đối với các nhu cầu hiện có của mình, là mối quan hệ kích thích, tác động đến tập thể hay cá nhân mỗi người nhằm bảo đảm điều kiện thuận lợi cho đời sống và sự phát triển của cá nhân hay tập thể, đấu tranh với những điều kiện cản trở sự tồn tại và phát triển của họ”.
Arefeva cho rằng “Lợi ích được quy định bởi mối quan hệ hiện thực khách quan giữa tình trạng hoàn cảnh sống và nhu cầu xã hội của chủ thể. Lavrinenko khẳng định “Lợi 19 ích là mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hội của chủ thể”. Theo ông, ta có thể bắt gặp quan điểm tương tự như vậy ở những tác giả nổi tiếng như G. Smirnov và một số tác giả khác.
Động lực, tạo động lực lao động trong tổ chức Động lực: Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo từ điển tiếng việt: Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Theo Mitchell: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình (Cuốn sách Multlines, năm 1999, trang 418). Theo Bolton: Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu.
Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Động lực lao động: Theo giáo trình QTNL của Nguyễn Vân Điềm –Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người, khi con người ở các vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu và mong muốn khác nhau.