MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước (NSNN). Với đặc điểm là nguồn tài chính công, nếu NSNN không được quản lý tốt sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí và kém hiệu quả, từ đó kéo theo những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế vĩ mô, gây mất ổn định chính trị, xã hội.
Theo quy định của Luật NSNN năm 2015 (Quốc hội , 2015), hệ thống NSNN ở nước ta được chia thành ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách địa phương (NSĐP) bao gồm: ngân sách cấp thành phố, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Theo cách phân chia này thì NSĐP chiếm tỷ trọng lớn trong NSNN, vì vậy NSĐP giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên việc bố trí nguồn vốn NSNN cho các lĩnh vực chi ở địa phương hiện nay vẫn còn dàn trải, hiệu quả đầu tư còn thấp, việc quản lý, sử dụng ngân sách còn nhiều thất thoát, lãng phí, tỷ trọng chi ngân sách cho một số lĩnh vực lớn nhưng hiệu quả mang lại chưa tương xứng với nguồn lực bỏ ra; chi tiêu trong quản lý hành chính còn nhiều bất hợp lý. Vì vậy, nghiên cứu để tăng cường và hoàn thiện quản lý chi NSNN ở địa phương, đảm bảo tuân thủ đúng chế độ, định mức và đạt được hiệu quả sử dụng nguồn vốn, khắc phục tình trạng chi vượt dự toán, hoặc chi không đúng thẩm quyền, sai quy định của Luật NSNN đang là yêu cầu cấp thiết đối với hầu hết các địa phương trên toàn quốc (Phùng Văn Hùng, 2006).
Huyện Đại Từ là một huyện nông nghiệp nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, điều kiện tự nhiên của huyện còn nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 2 đang phát triển, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn nhiều thiếu thốn, có tư tưởng chông chờ vào chính sách của nhà nước. Vì vậy việc quản lý chi NSNN cho ngành nông nghiệp ở huyện Đại Từ có nhiều phức tạp và khó khăn, mặt khác số thu ngân sách trên địa bàn thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 10% dự toán chi NSĐP hàng năm, chủ yếu nhận bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương (NSTW) Trong khi đó nhu cầu chi cho nông nghiệp rất lớn so với yêu cầu về nguồn lực để phát triển, yêu cầu về kết cấu hạ tầng, bảo đảm an ninh chính trị và an sinh xã hội trên địa bàn. Làm thế nào để góp phần khắc phục những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho ngành nông nghiệp của huyện Đại Từ. Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài: “Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triển ngành nông nghiệp huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ 2.
Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triền ngành nông nghiệp - Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triển ngành nông nghiệp huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017 - 2019. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho ngành nông nghiệp huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2020 - 2025. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước cho ngành nông nghiệp ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Luận văn nghiên cứu số liệu từ năm 2017-2019, đề xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 3 một số giải pháp cho giai đoạn 2020 - 2025.
- Phạm vi về không gian: Luận văn được thực hiện tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Phạm vi về nội dung: Tác giả chủ yếu đánh giá các hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện, như: đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, đất đai, giống, phân bón, ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa sản xuất. Ý nghĩa khoa học của luận văn Về lý luận: Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triển ngành nông nghiệp. Về thực tiễn: Đề tài sẽ phân tích, đánh giá hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước cho phát triển ngành nông nghiệp ở huyện Đại Từ.
Đề xuất các giải pháp quan trọng và có ý nghĩa nhằm tăng cường công tác huy động vốn đầu tư đa dạng từ nhiều nguồn, nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội để phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời tăng cường hơn nữa công tác quản lý chi NSNN cho đúng đối tượng, đúng mục đích trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế ngành nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu cho sinh viên trong lĩnh vực nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 Chương1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Luật ngân sách 2015) NSNN biểu hiện ra ngoài là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Nhưng về bản chất, đằng sau những con số thu, chi đó là mối quan hệ kinh tế về lợi ích giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế như: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước. Mối quan hệ này được phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NSNN, đòi hỏi các chủ thể quản lý NSNN phải giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước với các chủ thể trong nền kinh tế. Bởi vì đối tượng phân phối để tạo lập nguồn thu cho NSNN là giá trị của cải xã hội; mục đích phân phối, sử dụng nguồn vốn NSNN là đáp ứng các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời gian cụ thể.
Hệ thống NSNN nói chung gồm NSTW và NSĐP, tùy theo điều kiện kinh tế - chính trị và mô hình tổ chức chính quyền của từng quốc gia mà hệ thống NSNN có thể độc lập hay lồng ghép. Đối với Việt Nam hệ thống NSNN mang tính lồng ghép và NSTW giữ vai trò chủ đạo. Ngân sách nhà nước cấp huyện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 Theo luật NSNN, hệ thống NSNN gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương theo sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam NSTW bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này. Mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của NSTW.
NSTW cung ứng cung ứng nguồn tài chính cho các nhiệm vụ, mục tiêu chung cho cả nước trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. NSĐP là tên chung để chỉ ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngân sách xã, phường, thị trấn vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành ngân sách cấp huyện và quận. Ngân sách huyện, quận vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Như vậy, ngân sách nhà nước cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện Ngân sách huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước cấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách của huyện. Trên cơ sở đó mà đáp ứng các nhu cầu chi nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp huyện. Mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước XHCN. Đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khái niệm chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là hình thức cơ bản nhất của chi tiêu công, đó là quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định, nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc luật định trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cụ thể. Quá trình phân phối là quá trình phân bổ, cấp phát kinh phí từ NSNN cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng kinh phí được NSNN cấp để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước đối với từng cơ quan, đơn vị (Lê Đình Thăng, 2008). Mục đích của chi NSNN là thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Chi NSNN là nội dung của chấp hành NSNN nên thuộc trách nhiệm và quyền hạn của hệ thống cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước các cấp. Căn cứ để thực hiện chi NSNN là dự toán ngân sách hàng năm, quy định của pháp luật và định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách. Nếu hoạt động thu NSNN là nhằm thu hút các nguồn vốn tiền tệ để hình thành nên quỹ NSNN thì chi NSNN là chu trình phân phối, sử dụng các nguồn vốn tiền tệ đã được tập trung vào NSNN.