phần mở đầu, kết luận, các danh mục: tài liệu tham khảo, chữ viết tắt, sơ đồ, bảng biểu, biểu đồ và phụ lục. Nội dung Đề án được kết cấu gồm 3 chương: Chương1. Các vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại. Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ.
Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Khái niệm Trong kinh tế học, dịch vụ là một giao dịch trong đó không có hàng hóa vật chất nào được chuyển từ người bán sang người mua. Nhà cung cấp dịch vụ sử dụng các nguồn lực, kỹ năng, sự khéo léo và kinh nghiệm để mang lại lợi ích cho người tiêu dùng dịch vụ (Anders Gustofsson và Michael Johnson, 2003). Dịch vụ NHĐT hay Internet Banking được cung ứng từ khá sớm. Người ta ghi nhận lần đầu năm 1983, dịch vụ này được cung ứng bởi Ngân hàng Scotland (Bank of Scotland).
Tuy nhiên, vào năm 1990, dịch vụ này mới chính thức được cung ứng bởi các ngân hàng (Daniel, 1998), và bắt đầu phát triển kể từ đó. Có nhiều cách định nghĩa về các dịch vụ NHĐT. Gkoutzinis (2006) định nghĩa Internet Banking (còn gọi là Online Banking hoặc E-banking) là một dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng thông qua Internet để thực hiện truy vấn thông tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, mở tài khoản trực tuyến, đăng ký mở thẻ, đăng ký vay trực tuyến, v.v tại bất cứ điểm truy cập Internet nào và vào bất cứ thời điểm nào mà không cần phải đến các quầy giao dịch của ngân hàng. Theo Hoàng Trọng Thực (2002) đã định nghĩa dịch vụ NHĐT là các dịch vụ của ngân hàng thông qua hệ thống phần mềm cho phép một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên tài khoản tại ngân hàng và đăng ký dịch vụ mới.
Nguyễn Phan Yến Phương (2016) định nghĩa NHĐT là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được đưa lên Internet, điện thoại, mạng không dây. Nhìn chung các định nghĩa trên đều có đề cập tới hai điểm chung. Một là các dịch vụ ngân hàng truyền thống được đưa lên mạng. Hai là các phương tiện hoặc hình thức giao dịch qua mạng Internet hoặc các phương thức kết nối không dây.
5 Tổng kết các định nghĩa trên, trong Đề án này, ta định nghĩa “dịch vụ ngân hàng điện tử là một loại dịch vụ được ngân hàng cung cấp đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ mới và truyền thống của ngân hàng thông qua các kênh phân phối điện tử tương tác như internet, điện thoại, các thiết bị thanh toán trực tuyến chuyên dụng”. Các kênh phân phối điện tử chủ yếu bao gồm mạng internet, ứng dụng di động, các cổng thanh toán trực tuyến, mạng điện thoại cố định. Chi tiết các kênh phân phối điện tử phổ biến được trình bày ở nội dung về các loại hình dịch vụ NHĐT ở phần sau. Đặc điểm Thứ nhất, phục vụ người tiêu dùng mọi lúc, mọi nơi.
Tính tiện ích của dịch vụ NHĐT là khách hàng không cần ra quầy giao dịch để trực tiếp giao dịch với ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. Với internet banking, khách hàng chỉ cần kết nối mạng Internet ngay tại nhà hoặc bất cứ ở đâu là có thể truy cập vào trang web của ngân hàng để thực hiện nhu cầu giao dịch của mình kể cả những ngày nghỉ, hoặc khi khách hàng đang ở nơi không có trụ sở của ngân hàng. Thứ hai, tính chuyên nghiệp hóa cao, ứng dụng công nghệ hiện đại. Với công cụ hỗ trợ chuyên dụng kết hợp với mạng Internet, khách hàng dễ dàng truy cập vào tài khoản của mình để thực hiện giao dịch chuyển khoản, thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ, đặc biệt với những mạng di động tích hợp Internet, 3G.
Các ngân hàng cung cấp dịch vụ NHĐT đã nghiên cứu, đầu tư những hệ thống ứng dụng hiện đại, tính năng thân thiện người dùng, do đó khách hàng có thể dễ dàng cài đặt các phần mềm chuyên dụng tích hợp với tài khoản ngân hàng trên máy tính, điện thoại di động của mình để thực hiện các giao dịch tài chính, phi tài chính mong muốn. Thứ ba, an toàn, bảo mật, thân thiện, tiện ích, dễ sử dụng. Với mỗi dịch vụ NHĐT cụ thể đều có tính bảo mật rất cao. Cụ thể với Internet Banking, khách hàng thường được cấp một token là mật khẩu động, thay đổi một phút một lần, mỗi lần đăng nhập vào bằng tên người dùng (user) đã đăng ký với ngân hàng, mật khẩu động bao gồm mật khẩu riêng của khách hàng kết hợp với dãy số hiển thị trên tokenkey.
Điều này khiến Internet Banking trở nên vô cùng an toàn. Cách sử dụng đơn giản, khách hàng truy cập vào tài khoản của mình và thực hiện các thao tác như 6 hướng dẫn để thực hiện nhu cầu của mình như thanh toán hóa đơn hàng hóa, dịch vụ, thanh toán hóa đơn điện thoại, thanh toán dư nợ thẻ tín dụng, gửi tiết kiệm online. Thứ tư, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí. Với dịch vụ NHĐT, khách hàng không phải tốn di chuyển ra ngân hàng để thực hiện nhu cầu giao dịch của mình, chỉ cần máy tính hoặc điện thoại thông minh có kết nối mạng bạn có thể thực hiện bất kỳ nhu cầu giao dịch nào.
Đặc biệt, đối với những nhân viên công sở không có thời gian rảnh trong giờ hành chính, việc đến quầy giao dịch ngân hàng thường rất khó khăn. Vì vậy, dịch vụ NHĐT là giải pháp phù hợp nhất và hấp dẫn đối với họ. Đối với cả khách hàng và ngân hàng, giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử đều giúp tiết kiệm chi phí: chi phí di chuyển, chi phí phục vụ, và những chi phí liên quan khác. Các dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại Như đã đề cập ở phần khái niệm, dịch vụ NHĐT là các dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh phân phối điện tử, kênh phân phối là một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt dịch vụ NHĐT.
Do đó, trong phần này, Đề án đã tổng hợp các dịch vụ NHĐT theo các loại hình kênh phân phối như sau: 1. Dịch vụ NHĐT sử dụng điện thoại truyền thống (Phone Banking) Phone Banking là hệ thống tự động trả lời qua tổng đài hoạt động 24/24. Thông thường, khách hàng dùng điện thoại (điện thoại bàn hoặc điện thoại di động) gọi vào số điện thoại cố định do ngân hàng cung cấp sau đó nghe hướng dẫn sử dụng các phím số theo mã do ngân hàng quy định, để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết. Khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản, tra cứu thông tin tỷ giá, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin một số giao dịch gần nhất, báo mất thẻ hoặc khóa thẻ.
Khách hàng cũng có thể yêu cầu gửi các thông tin trên về email hoặc địa chỉ làm việc. Loại dịch vụ NHĐT này được cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với khách hàng thông qua tổng đài dịch vụ. Thông qua các phím chức năng được định trước, khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc được kết nối đến nhân viên tổng đài. Khi đăng ký sử dụng dịch vụ Phone Banking, khách hàng có thể sẽ được 7 cung cấp một mã khách hàng, hoặc mã tài khoản và tuỳ theo dịch vụ đăng ký, khách hàng có thể sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau.
Nhìn chung, quy trình sử dụng dịch vụ Phone Banking như sau: Một là, đăng ký sử dụng dịch vụ. Khách hàng phải cung cấp các thông tin cần thiết và ký vào hợp đồng đồng ý sử dụng dịch vụ Phone Banking. Sau đó, khách hàng sẽ được cung cấp 2 số định danh là mã khách hàng và mã khoá truy nhập hệ thống, ngoài ra khách hàng sẽ được cung cấp một mật khẩu tài khoản nhằm tạo sự thuận tiện trong giao dịch cũng như bảo mật và đảm bảo an toàn. Hai là, xử lý một giao dịch.
Khi khách hàng quay số tới tổng đài, nhập mã khách hàng và khoá truy nhập dịch vụ, theo lời nhắc trên điện thoại, khách hàng chọn phím chức năng tương ứng với dịch vụ mình cần thực hiện giao dịch. Khách hàng có thể thay đổi, chỉnh sửa trước khi xác nhận giao dịch với ngân hàng, chứng từ giao dịch sẽ được in ra và gửi tới khách hàng khi giao dịch được xử lý xong. Qua các hệ thống Phone Banking, khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ ngân hàng như: hướng dẫn sử dụng dịch vụ, giới thiệu thông tin về dịch vụ ngân hàng, cung cấp thông tin tài khoản và bảng kê các giao dịch, báo nợ, báo có, cung cấp thông tin ngân hàng như lãi suất, tỷ giá hối đoái, chuyển tiền, thanh toán hoá đơn và dịch vụ hỗ trợ khách hàng khác mọi lúc mọi nơi kể cả ngoài giờ hành chính. Dịch vụ NHĐT sử dụng máy tính cá nhân và Internet (Internet Banking) Internet Banking là kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng qua mạng Internet.
Internet Banking được xem là kênh giao dịch mới, hiện đại, giúp khách hàng có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng ở mọi nơi, mọi hình thức, bất cứ lúc nào. Tất cả các giao dịch được trao đổi qua mạng Internet. Mỗi trang chủ của ngân hàng được coi là một cửa sổ giao dịch. Thông qua trang chủ của ngân hàng, người sử dụng có thể truy cập vào tài khoản của mình và các dịch vụ trực tuyến khác như mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tư vào chứng khoán.
Mỗi lần nhấp chuột sẽ là cơ hội để kinh doanh và đầu tư, theo đó ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán và chi trả các chi phí dịch vụ thông qua tài khoản của họ tại ngân hàng.