Chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu và các nội dung khác như mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện,.đồng thời cũng đề cập đến các đóng góp thực tế cho NHTMCP Việt Nam trong đối với đề tài được nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về ĐDH thu nhập và lợi nhuận của các NHTMCP 2. ĐDH thu nhập Trên thực tế, một số kết quả nghiên cứu đã thực hiện trước đây đã đưa ra các quan điểm không đồng nhất về khái niệm “ĐDH” nói chung và “ĐDH thu nhập” nói riêng, các nghiên cứu với những mục tiêu khác nhau lại đưa ra các cách hiểu khác nhau.
Điển hình một số nghiên cứu như: Meslier và cộng sự (2014), Elsas và cộng sự (2010) cho rằng các NH ĐDH nguồn thu nhập của mình bằng cách thực hiện các hoạt động mới, chẳng hạn như bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, môi giới và NH đầu tư và các hoạt động khác tạo ra thu nhập ngoài lãi. Ebrahim và Hasan (2008) cho rằng ĐDH của NH là việc thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh sang các sản phẩm tài chính và loại hình dịch vụ mới của NH nằm ngoài các hoạt động truyền thống. Baele và cộng sự (2007), Kahloul và Hallara (2010) lại đưa ra ý kiến thể hiện quan điểm ĐDH trong lĩnh vực NH là sự kết hợp thành một tập đoàn với tập hợp các hoạt động kinh doanh NH, đầu tư chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và mở rộng thêm các dịch vụ tài chính khác hoặc có thể xem là việc thành lập tập đoàn bao gồm nhiều NH quản lý bởi NH mẹ, hoặc một nhóm các NH. Nhóm nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), và nhóm của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) cũng đồng nhất quan điểm rằng ĐDH thu nhập là việc tăng tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động ngoài lãi và giảm dần tỷ trọng hoạt động từ lãi.
Nhìn chung, ĐDH thu nhập tại các NHTMCP được hiểu là sự mở rộng phát triển các lĩnh vực kinh doanh phi truyền thống hoặc sản phẩm tài chính để gia tăng thu nhập ngoài lãi như là những dịch vụ về NH,. Cạnh tranh thị trường gia tăng dẫn đến ĐDH các nguồn thu nhập khác, chủ yếu chuyển từ thu nhập lãi sang thu nhập 9 ngoài lãi (Williams, 2016; Zouaoui & Zoghlami, 2020), và những thay đổi trong cơ cấu thu nhập ảnh hưởng đến sự ổn định của ngành NH (Abedifar et al. , 2018; Đoàn và cộng sự, 2018). Trong lĩnh vực NH, ĐDH thu nhập thường được đo lường thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (Asif và Akhter, 2019).
Đo lường thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman: Chỉ số Herfindahl Hirschman được ứng dụng mở rộng để đo lường mức độ tập trung của các nguồn thu nhập của ngân hàng. Thành phần thu nhập ngân hàng gồmhai phần cơ bản: thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi. Các nghiên cứu của Elsas & cộng sự, 2010; Gurbuz & cộng sự, 2013; Sanya & Wolfe, 2011; Trujillo- Ponce, 2013 cách tính chỉ số ĐDH thu nhập như sau: NON 2 NET 2 HHI=1−[( NETOP ) +( NETOP )] Trong đó: NON được hiểu là thu nhập ngoài lãi của NH. NON được tính dựa trên tổng cộng thu nhập bao gồm: các khoản phí và hoa hồng; các khoản thu nhập đến từ hoạt động dịch vụ; hoạt động từ kinh doanh chứng và các khoản từ chứng khoán đầu tư; hoạt động kinh doanh ngoại hối, vàng; và nguồn thu từ hoạt động khác.
NET được hiểu là thu nhập chỉ bao gồm hoạt động từ lãi và tính theo giá trị thu nhập lãi thuần trong kết quả kinh doanh. NETOP được hiểu là thu nhập ròng và tính theo giá trị tổng thu nhập ngoài lãi cộng với thu nhập lãi thuần. Nói cách khác, NETOP = NON + NET. Đo lường thông qua tỷ lệ thu nhập từ hoạt động ngoài lãi Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010), thu nhập ngoài lãi của NHTM là chênh lệch giữa doanh thu từ các hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ phi tín dụng so với chi phí cho hoạt động này.
Tỷ trọng này thể hiện sự phát triển và đa dạng danh mục hoạt động kinh doanh của NH. Ngoài ra, trên báo cáo tài chính 10 của các NH ngoài thu nhập từ lãi, còn có các nguồn thu nhập từ các hoạt động khác như thu nhập từ hoạt động dịch vụ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng khoán, thu nhập từ hoạt động khác. Theo Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) thì việc đo lường các thu nhập đến từ hoạt động ngoài lãi được tổng hợp từ 03 cấu phần gồm thu nhập từ dịch vụ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư, thu nhập khác. Cụ thể: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi = Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh và đầu tư + Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ + Tỷ lệ thu nhập thuần từ các hoạt động khác.
Đối với phạm vi luận văn này, tác giả đo lường ĐDH thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman (HHI) để tính toán và đưa vào để thực hiện các phân tích cho mô hình nghiên cứu. Lợi nhuận Xét về mặt học thuật, lợi nhuận của các NHTM được hiểu hầu hết như khái niệm dành cho doanh nghiệp, đó là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Nói cách khác, chỉ số phản ánh lợi nhuận là những tỷ suất phản ánh về tài chính được sử dụng để theo dõi mức sinh lợi trong hoạt động kinh doanh. Có nhiều khía cạnh để xem xét, đánh giá đánh giá về lợi nhuận của các NHTMCP, tuy nhiên việc đo lường các chỉ số tài chính là phương pháp truyền thống và được triển khai phổ biến nhất vì dễ hiểu và dễ dàng thực hiện.
Các nhà đầu tư tiềm năng và cổ đông của NH thường sử dụng các chỉ số tài chính quan trọng để đo lường và đánh giá hoạt động của NH (Grazyna 2008). Trong nghiên cứu này, lợi nhuận được đo lường bởi ROA, ROE và NIM. Trong đó: Chỉ số ROA: là tỷ suất sinh lời trên tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp nói chung và NH nói riêng, điều này thể hiện ở việc sử dụng tài sản để sinh ra lợi nhuận sau thuế mà bỏ qua sự không phân biệt trong việc hình thành tài 11 sản này bởi VCSH hay vốn vay của doanh nghiệp. ROA được sử dụng như chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của NH, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản thành thu nhập ròng theo quan điểm của Rose và Hudgin (2008), và phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư theo Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh (2021).
ROA được tính toán như sau: Chỉ số ROE: là tỷ suất sinh lời được tính từ lợi nhuận trên mức VCSH bình quân, chỉ số này dùng để phản ánh mức lợi nhuận sau khi trừ thuế đem lại dựa trên số vốn đầu tư vào doanh nghiệp của chủ sở hữu. ROE thực tế trong NH có liên quan đến chi phí lãi vay và thuế thu nhập áp dụng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; do đó, chỉ số này được coi như là một trong những tiêu chí để đánh giá, đo lường mức độ hiệu quả với các áp lực về đòn bẩy tải chính trong sử dụng VCSH. ROE được tính toán như sau: Chỉ số NIM: là tỷ lệ thu nhập lãi biên dùng để phản ánh mức chênh lệch giữa doanh thu các hoạt động đến từ lãi so với giá trị chi phí trả lãi mà NH có thể đạt được; phản ánh hiệu quả của chỉ số này thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ những tài sản có khả năng sinh lời và duy trì việc sử dụng nguồn vốn có chi phí thấp. NIM được tính toán như sau: Trong đó: Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi và thu nhập tương tự - Chi phí lãi và chi phí tương tự.
12 Tổng tài sản sinh lời = Tiền gửi tại NHNN + Tiền gửi lại các tổ chức tài chính khác + Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng. Tác động ĐDH thu nhập đến lợi nhuận của NHTMCP Kết quả từ nhiều nghiên cứu tại một số quốc gia trên thế giới đã đưa ra những kết luận về tác động tích cực của ĐDH thu nhập đến tỷ suất lợi nhuân, cũng như hiệu quả hoạt động của NH nói chung như: Syed Moudud-Ul-Huq (2018) đã phân tích việc ĐDH thu nhập và ĐDH tài sản tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NH ở Đông Nam Á trong khoảng thời gian từ năm 2011-2015. Tác giả kết luận rằng ĐDH làm tăng hiệu quả hoạt động NH đồng thời giảm rủi ro, tuy nhiên kết quả này không đồng nhất đối với kết quả nghiên cứu tại các NH. Thêm vào đó, ĐDH thu nhập có mối quan hệ tích cực đến hiệu quả và sự ổn định trong hoạt động của NH, đối với ĐDH tài sản trong nghiên cứu cho thấy mối quan hệ sẽ thay đổi tùy thuộc vào từng quốc gia.
Wang và Lin (2021) điều tra tác động của ĐDH thu nhập đối với rủi ro NH đối với các NH thương mại ở 14 nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 2011–2016. Tác giả nhận thấy rằng các NH có mức độ ĐDH thu nhập cao hơn nhìn chung sẽ ít rủi ro hơn. Mặt khác, tác giả xem xét thêm cả các nền kinh tế phát triển và mới nổi theo phân loại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế về mức độ phát triển kinh tế. Cụ thể, đối với các nền kinh tế mới nổi, kết quả chỉ ra rằng các NH có mức độ ĐDH thu nhập cao hơn sẽ gặp ít rủi ro hơn.
Tuy nhiên, việc ĐDH thu nhập của NH thương mại không có tác động đáng kể đến rủi ro NH ở các nền kinh tế phát triển Châu Á Thái Bình Dương. Addai và công sự (2022) kết luận rằng ĐDH thu nhập làm tăng lợi nhuận của NH và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của NH khi nghiên cứu trong phạm vi dữ liệu thu thập từ 715 NH thuộc 52 nước ở Châu Phi với khoảng thời gian từ 2011-2018. Sanya và Wolfe (2011) đưa ra các đánh giá phân tích trong nghiên cứu của mình rằng ĐDH thu nhập tác động đến các NH của nhóm các quốc gia mới nổi.