phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng I: Cơ sở khoa học về sử dụng công chức Chƣơng II: Thực trạng sử dụng công chức tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Lai Châu Chƣơng III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công chức tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Lai Châu giai đoạn 2016-2020. 9 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG CÔNG CHỨC 1. Khái niệm công chức, công chức hành chính nhà nƣớc Mặc dù chế độ công vụ đã tồn tại và phát triển đã trên 3 thế kỷ tính từ thời điểm xuất hiện thuật ngữ công chức vào năm 1859 ở Anh nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
Khái niệm công chức rất đa dạng và phong phú và đang đƣợc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với xu thế phát triển. Mỗi quốc gia có một cách nhìn nhận riêng, một cách tiếp cận riêng về phạm vi, đặc trƣng của công chức. Phạm vi công chức ở mỗi quốc gia không giống nhau. Ví dụ, có những quốc gia coi công chức là những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp hay các lực lƣợng vũ trang, công an).
Trong khi đó có những nƣớc lại chỉ giới hạn công chức là những ngƣời làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc. Việc xác định ai là công chức thƣờng do các yếu tố sau quyết định: - Hệ thống thể chế chính trị. - Tổ chức bộ máy nhà nƣớc. - Sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Tính truyền thống và các yếu tố văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, công chức là khái niệm chung để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, công chức thƣờng có một số đặc điểm chung là: - Là công dân của nƣớc đó. - Đƣợc tuyển dụng qua thi tuyển hoặc xét tuyển. - Đƣợc bổ nhiệm vào một ngạch, một chức danh hoặc gắn với một vị trí việc làm.
10 e - Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Ở Việt Nam, qua rất nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, với nhiều văn bản ra đời nói về đội ngũ công chức. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn cho từng khái niệm “công chức” là: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [28]. Điều 2 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định những ngƣời là công chức xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này” [6].
Nhƣ vậy, theo tác giả, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, 11 e đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. Công chức hành chính nhà nước Trong Luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu đối tƣợng công chức hành chính nhà nƣớc. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Công chức có mặt ở nhiều cơ quan khác nhau trong hệ thống chính trị Việt Nam, từ các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội đến bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó đa số ở trong bộ máy hành chính nhà nƣớc.
Đây cũng là điểm riêng trong quan niệm về công chức của Việt Nam, và đang cần đổi mới cho phù hợp với quan niệm chung của thế giới. Công chức hành chính nhà nƣớc, theo tác giả, là công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Đối tƣợng công chức hành chính nhà nƣớc, do đó, có một số điểm đặc thù so với công chức ở các cơ quan khác. Những vấn đề chung về sử dụng công chức 1.
Khái niệm sử dụng công chức Sử dụng nhân sự hay “dùng ngƣời” là nội dung quan trọng trong quản lý nhân sự. Là một dạng nhân sự đặc biệt, công chức có những điểm đặc trƣng riêng. Sử dụng công chức vì thế cũng có những đặc thù. “Sử dụng công chức đƣợc quan niệm là nhà nƣớc thực hiện chính sách huy động nguồn nhân lực hành chính (chủ yếu là đội ngũ công chức nhà nƣớc hiện có) vào hoạt động quản lý trong thực thi công vụ” [12].
Sử dụng công chức là sử dụng lực lƣợng lao động đang có sau khi một ngƣời đƣợc tuyển dụng, gia nhập vào hệ thống công chức. Nhƣ vậy, nhìn chung sử dụng công chức là việc bố trí, sắp xếp đội ngũ công chức vào những vị trí, công việc khác nhau trong cơ quan nhà nƣớc để 12 e phát huy cao nhất những kiến thức, kỹ năng vốn có của họ vào việc hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Với việc giới hạn đối tƣợng nghiên cứu là công chức hành chính nhà nƣớc thì sử dụng công chức, trong khuôn khổ Luận văn này, đƣợc hiểu là quá trình sắp xếp, bố trí đội ngũ công chức vào các vị trí công việc tại các cơ quan hành chính nhà nước, khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của họ nhằm đạt hiệu quả cao của công việc, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước. Theo cách tiếp cận đó, sử dụng nhân sự của tổ chức gồm hai nhiệm vụ cơ bản: - Sắp xếp công chức vào các vị trí công việc của cơ quan hành chính nhà nƣớc; - Khai thác và phát triển năng lực làm việc của đội ngũ công chức một cách tốt nhất.
Hoạt động sử dụng công chức gắn liền với quá trình phát triển chức nghiệp của cá nhân mỗi công chức, nhƣng đồng thời, nó cũng nằm trong tổng thể của việc sử dụng cả đội ngũ công chức của cơ quan, tổ chức, rộng hơn là của ngành, địa phƣơng đó. Đội ngũ là tập hợp gồm nhiều ngƣời có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, tạo thành một lực lƣợng. Khái niệm đội ngũ đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ đội ngũ trí thức, đội ngũ giáo viên, đội ngũ công chức, và những tập hợp ngƣời này mang những đặc trƣng riêng so với những tập hợp ngƣời khác. Đội ngũ công chức, do đó, theo tác giả, là tập hợp những công chức đƣợc tổ chức thành một lực lƣợng (có tổ chức) cùng chung một chức năng, nhiệm vụ để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Họ làm việc cùng với nhau và có sự gắn bó với nhau thông qua lợi ích vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật và nội quy của cơ quan, tổ chức đó. Họ là một tập thể có sự gắn kết, làm việc theo tổ chức, hƣớng tới mục tiêu chung. 13 e Vì thế, trong hoạt động sử dụng công chức, chúng ta đồng thời tiến hành sử dụng từng cá nhân công chức riêng lẻ, và đặt trong một tổng thể sử dụng cả một tập thể công chức ấy. Mặc dù, đội ngũ công chức đƣợc phân chia thành nhiều nhóm mang những đặc thù riêng (theo vị trí, công việc có nhóm công chức lãnh đạo, nhóm công chức tham mƣu, nhóm công chức thừa hành; hoặc theo thâm niên công tác có thể có công chức tập sự, công chức có thâm niên dƣới 5 năm, dƣới 10 năm,.) với cơ hội phát triển, bố trí, sử dụng, tiêu chí đánh giá khác nhau.
Song nhìn chung, khi nói tới sử dụng công chức là nói tới việc sử dụng từng cá nhân công chức song đƣợc đặt trong tổng thể một tập hợp thống nhất các công chức của toàn cơ quan, tổ chức đó. Tầm quan trọng của sử dụng công chức Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn lực con ngƣời là yếu tố quyết định nhất cho hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức thì sử dụng công chức đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi vì, lựa chọn đội ngũ công chức tốt chƣa đủ, cần phải biết khéo léo bố trí, sử dụng công chức đúng chỗ, đúng sở trƣờng mới phát huy tốt năng lực của công chức. - Đối với cá nhân công chức Sắp xếp, bố trí công chức phải vừa tầm, không quá cao hoặc quá thấp so với khả năng của công chức.
Nhìn chung, sử dụng công chức tốt, hợp lý sẽ tạo động lực phấn đấu, giúp công chức phát triển nhanh hơn, trƣởng thành sớm hơn. Bản thân mỗi công chức, đƣợc bố trí công việc phù hợp, đƣợc đánh giá đúng đắn, đƣợc khuyến khích phát triển, thăng tiến đúng khả năng sẽ giúp ngƣời công chức đó có cơ hội phát triển, phát huy đƣợc các kiến thức, kĩ năng, thái độ để hoàn thiện bản thân đồng thời cũng có sự gắn bó lâu dài với cơ quan. Bởi nhiều công chức giỏi rời bỏ nơi làm việc không phải vì tiền bạc, có thể do môi trƣờng làm việc, xung đột nội bộ mà họ cảm thấy mệt mỏi; 14 e hoặc do phong cách lãnh đạo vì họ thấy ở nơi đó không có cơ hội để mình phát triển. - Đối với cơ quan sử dụng công chức Một là, giúp xây dựng đội ngũ công chức có chất lƣợng cao.