đặt vấn đề để bắt đầu nghiên cứu một đề mục, cho đến bước nghiên cứu GQVĐ, bước vận dụng để củng cố, luyện tập, ôn tập hoặc mở rộng, đào sâu tri thức và thực hành.Tuỳ theo mục đích sử dụng, các bài tập Vật lí có thể xây dựng với nội dung thích hợp và cách giải tương ứng. Có lúc các bài tập Vật lí xuất hiện tường minh dưới dạng những đề toán quen thuộc như chúng ta vẫn thường gặp trong các giờ học hoặc các kì thi, nhưng cũng có lúc chúng ta còn phải phát hiện ra chúng và tự mình nêu thành lời để trở nên một bài tập Vật lí quen thuộc và phải tự mình cung cấp cả số liệu và yêu cầu cần tìm cho bài tập trước khi có thể giải để đi tới kết quả cuối cùng. “Cũng như việc học tập môn Vật lí nói chung, việc giải bài tập Vật lí ở nhà trường nói riêng không thể chỉ dừng lại ở sự tìm cách vận dụng các công thức Vật lí để giải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn cho xong các phương trình và đi đến những đáp số. Quan trọng hơn là giải bài tập Vật lí phải giúp học sinh hiểu sâu hơn các hiện tượng Vật lí xảy ra trong thế giới tự nhiên xung quanh ta, trong các đối tượng của nền công nghệ văn minh mà ta đang sử dụng, và từ sự hiểu biết sâu sắc đó mà thúc đẩy học sinh học giải quyết những vấn đề khác nhau của đời sống và công nghệ sau này.” “Các bài tập giáo khoa của chúng ta thường rất khác xa với những bài toán mà học sinh sẽ gặp trong cuộc sống.
Nếu không hiểu thấu đáo Vật lí học và nhất là không quen với việc giải bài tập Vật lí một cách thông minh sáng tạo thì học sinh sẽ khó lòng giải quyết tốt những bài toán thực của cuộc sống. Vai trò và vị trí của bài tập Vật lí trong dạy học Vật lí 1. Vai trò của bài tập Vật lí “Trong quá trình dạy học Vật lí, các bài tập Vật lí có tầm quan trọng đặc biệt. Chúng được sử dụng theo các mục đích khác nhau”[14].
“Việc sử dụng bài tập trong dạy học Vật lí có các tác dụng sau:” “- Giúp cho việc ôn tập củng cố và mở rộng kiến thức, kĩ năng cho học sinh;” “- Bài tập có thể là khởi đầu kiến thức mới;” “- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, phát triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát;” - Phát triển năng lực tự lực làm việc của học sinh; - Phát triển tư duy sáng tạo của học sinh; “- Dùng để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh.” “Bài toán Vật lí, hay đơn giản gọi là các bài tập Vật lí, là một phần hữu cơ của quá trình dạy học Vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm Vật lí, phát triển tư duy Vật lí và thói quen vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế.” "Các bài tập Vật lí được sử dụng trong các trường hợp sau:" "- Đề xuất vấn đề học tập hay tạo ra tình huống có vấn đề." - Thông báo kiến thức mới. "- Hình thành kĩ năng và thói quen thực hành." - Kiểm tra kiến thức học sinh. "- Củng cố, khái quát hoá và ôn tập kiến thức." - Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn "Về phương diện giáo dục, giải các bài tập Vật lí sẽ giúp hình thành các phẩm chất cá nhân của học sinh như tình yêu lao động, trí tò mò, sự khéo léo, khả năng tự lực, hứng thú đối với học tập, ý chí và sự kiên trì đạt tới mục đích đặt ra.
Vị trí của bài tập trong dạy học Vật lí “Bài tập có thể được sử dụng ở nhiều giai đoạn của quá trình dạy học Vật lí với các chức năng khác nhau để thực hiện các nhiệm vụ và mục đích dạy học Vật lí. Cụ thể: - Tổ chức dạy học bài tập khi mở đầu bài học, xây dựng tình huống dạy học; - Tổ chức dạy học bài tập khi dạy học kiến thức mới; - Tổ chức dạy học bài tập khi ôn luyện; - Tổ chức dạy học bài tập khi kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học. Phân loại bài tập Vật lí 1. Phân loại bài tập Vật lí theo quan điểm truyền thống Phân loại bài tập 1.
Phương thực giải 2. Phân loại theo nội dung 3. Phân loại theo yêu cầu - Bài tập định tính 4. Phân loại theo thể hiện - Bài tập luyện tập - Bài tập định lượng - Bài tập sang tạ - Bài tập thí nghiệm - Bài tập nghiên cứu - Bài tập đồ thị 5.
Phân loại theo hình thức - Bài tập thiết kế - Bài tập tự luận - Bài tập trắc nghiệm Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hóa phân loại bài tập Vật lí A. Phân loại theo phương thức giải a) Bài tập định tính “Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải học sinh không cần thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được. Muốn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn giải những bài tập định tính, học sinh phải thực hiện phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật Vật lí, nhận biết được những biểu hiện của chúng trong trường hợp cụ thể. Đa số cá bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc suy đoán một hiện tượng xảy ra trong những điều kiện cụ thể.” “Bài tập định tính làm tăng sự hứng thú của học sinh đối với môn học, tạo điều kiện phát triển trí óc quan sát ở học sinh, là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của học sinh và dạy cho học sinh biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn [14].” b) Bài tập định lượng “Bài tập định lượng là loại bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện một loạt các phép tính để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa các đại lượng và kết quả thu được là một đáp án định lượng.
Có thể chia bài tập định lượng làm hai loại:” “- Bài tập tính toán tập dượt: là loại bài tập tính toán đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản nhằm củng cố kiến thức cơ bản vừa mới học, làm học sinh hiểu rõ ý nghĩa các định luật và các công thức biểu diễn chúng.” “- Bài tập tính toán tổng hợp: là loại bài tập mà khi giải thì phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức. Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ các mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình Vật lí. Ngoài ra bài tập tính toán tổng hợp cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung Vật lí của các định luật, quy tắc biểu hiện dưới các công thức. Vì vậy, giáo viên cần lưu ý học sinh chú ý đến ý nghĩa Vật lí của chúng trước khi đi vào lựa chọn các công thức và thực hiện phép tính toán [14] [23].” c) Bài tập thí nghiệm “Bài tập thí nghiệm là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập.
Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản. bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định lượng hoặc định tính [14] [23].” “Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng về cả mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ lý thuyết và thực tiễn.” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn “Lưu ý, trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các số liệu để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế. Cho nên phần vận dụng các định luật Vật lí giải thích các hiện tượng mới là nội dung chính của bài thí nghiệm.” d) Bài tập đồ thị “Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị.” “Bài tập đồ thị có tác dụng rèn luyện kĩ năng đọc, vẽ đồ thị và mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng mô tả trong đồ thị [14]. Phân loại theo nội dung “Người ta dựa vào nội dung chia các bài tập theo các đề tài của tài liệu Vật lí.
Sự phân chia như vậy có tính quy ước vì bài tập có thể đề cập tới những kiến thức của những phần khác nhau trong chương trình Vật lí. Theo nội dung, người ta phân biệt các bài tập có nội dung trừu tượng, bài tập có nội dung cụ thể, bài tập có nội dung thực tế, bài tập vui.” “- Bài tập có nội dung trừu tượng là trong điều kiện của bài toán, bản chất Vật lí được nêu bậc lên, những chi tiết không bản chất đã được bỏ bớt.” “- Bài tập có nội dung cụ thể có tác dụng tập dượt cho học sinh phân tích các hiện tượng Vật lí cụ thể để làm rõ bản chất Vật lí.” “- Bài tập có nội dung thực tế là loại bài tập có liên quan trực tiếp đến đời sống, kĩ thuật, sản xuất và đặc biệt là thực tế lao động của học sinh, có tác dụng rất lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp.” “- Bài tập vui là bài tập có tác dụng làm giảm bớt sự khô khan, mệt mỏi, ức chế ở học sinh, nó tạo sự hứng thú đồng thời mang lại trí tuệ cao [14]. Phân loại theo yêu cầu rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy học sinh trong quá trình dạy học “- Bài tập luyện tập: là loại bài tập mà việc giải chúng không đòi hỏi tư duy sáng tạo học sinh, chủ yếu chỉ yêu cầu học sinh nắm vũng cách giải đối với một loại bài tập nhất định đã được chỉ dẫn.” - Bài tập sáng tạo: “trong bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những kiến thức độc lập, mới mẻ, không thể suy ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.