phần Mở đầu và Danh mục tài liệu tham khảo. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Quan niệm về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực – thuật ngữ tiếng Anh tƣơng đƣơng là Human resource là một khái niệm cơ bản, cũng là đối tƣợng của môn khoa học quản lý tổ chức – môn quản trị học; cụ thể hơn là đối tƣợng nghiên cứu của môn quản trị nguồn nhân lực hay quản trị nhân sự.
Từ góc độ quản trị học (khoa học quản lý vi mô), nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể (tổ chức vi mô), nghĩa là toàn bộ đội ngũ CBCNV với tƣ cách vừa là khách thể trung tâm của nhà quản trị vừa là chủ thể hoạt động và động lực phát triển của tổ chức nói chung, của các doanh nghiệp nói riêng. Nguồn nhân lực là một đối tƣợng phức tạp, là một tổng thể gồm nhiều cá nhân, nhân cách hợp thành với nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống nhƣ nhu cầu kinh tế, nhu cầu tinh thần, văn hóa, xã hội… Vì vậy, để tránh sự hỗn loạn và hoạt động kém hiệu quả của tổ chức, tất yếu cần quản trị nguồn nhân lực. Quản trị nguồn nhân lực “là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng động viên và tạo mọi điều kiện cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc và định hƣớng viễn cảnh của tổ chức” [18, tr.17] Còn có những định nghĩa khác về việc quản trị nhân sự. Điểm chung của các quan niệm, định nghĩa khác nhau về quản trị nhân sự là những chức năng chung của quản lý đối với nguồn nhân lực, bao gồm 4 chức năng cơ bản: hoạch định (Planning), tổ chức (organizing), điều khiển (directing), và thúc đẩy, kiểm tra (controlling).
Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp Quản trị nguồn nhân lực là một trong những chức năng cơ bản của hoạt động quản trị, giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến con ngƣời gắn với công việc của họ trong bất cứ một tổ chức nào. Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu công tác quản trị nguồn nhân lực hay còn gọi là quản trị nhân sự (Personnel management) của tổ chức đó. Quản trị nguồn nhân lực là bộ phận cấu thành của quản trị và là bộ phận không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh. Quản trị nguồn nhân lực là một hệ thống và tiến trình gồm nhiều thành tố và công việc chính nhƣ: Hoạch định nguồn nhân lực; tuyển chọn nhân sự; đào tạo và phát triển; chính sách đãi ngộ và khuyến khích nhân viên; đánh giá nhân sự và bố trí, điều động nhân sự; khen thƣởng và kỷ luật… Nguồn nhân lực với tƣ cách là chủ thể hoạt động cần đáp ứng những yêu cầu của thị trƣờng và khách hàng mà nó phục vụ.
Nhìn rộng hơn, chính môi trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp buộc nhân lực của doanh nghiệp phải có những phẩm chất, năng lực, hành động – hành vi phù hợp và thích nghi. Tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thì cần một nguồn nhân lực phù hợp với nó và có tính đặc thù so với các dạng tổ chức, doanh nghiệp khác. Vậy, nguồn nhân lực của một công ty Tƣ vấn đầu tƣ phát triển và xây dựng mà hoạt động chính là tƣ vấn thiết kế xây dựng cần có những đặc điểm gì? Sau đây là một số đặc điểm căn bản rút ra từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực tƣ vấn thiết kế xây dựng: - Là hoạt động tƣ vấn chuyên ngành, đi sâu vào lĩnh vực xây dựng. Giải pháp thiết kế xây dựng phải cụ thể hóa đƣợc tốt nhất chủ trƣơng đầu tƣ, đảm bảo mối quan hệ ăn khớp giữa các bộ phận của thiết kế, giữa thiết kế và thực hiện xây dựng trên thực tế, đồng thời phải dựa trên các tiêu chuẩn, định mức 8 z thiết kế có cơ sở khoa học và tiến bộ, đảm bảo an toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng đƣợc áp dụng, các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trƣờng và những tiêu chuẩn liên quan.
Nội dung tƣ vấn phải thỏa mãn yêu cầu và chức năng sử dụng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ tƣ vấn phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất cao và am hiểu về lĩnh vực xây dựng cũng nhƣ mọi quy định và chính sách liên quan. - Quá trình hoạt động tƣ vấn gắn liền với các quá trình xây dựng. Vì vậy, ngƣời làm tƣ vấn xây dựng phải có khả năng tính toán chính xác để đảm bảo đƣợc độ an toàn cho công trình.
- Hoạt động tƣ vấn thiết kế xây dựng có yêu cầu khắt khe về chất lƣợng và thời gian bởi thời gian tƣ vấn thiết kế càng ngắn thì khả năng công trình hoàn thành xong khỏi bị hƣ hỏng và lạc hậu càng cao. - Tƣ vấn thiết kế xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động tƣ vấn của nền kinh tế quốc dân. Khách hàng của hoạt động tƣ vấn thiết kế xây dựng rất đa dạng: là các tổ chức, các doanh nghiệp và cả các cá nhân thuộc tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân trên phạm vi cả nƣớc và quốc tế. Đặc điểm này đòi hỏi đội ngũ CBTVTKXD không những phải có trình độ chuyên môn giỏi mà còn phải có khả năng giao tiếp, thuyết phục và khả năng giải quyết vấn đề, khả năng đàm phán, thƣơng lƣợng cũng nhƣ khả năng ra quyết định rất tốt để có thể đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu của các khách hàng.
Bên cạnh đó, CBTVTKXD cũng phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để có tinh thần trách nhiệm với khách hàng và xã hội, không vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích xã hội trong quá trình tƣ vấn. - Sản phẩm của dịch vụ tƣ vấn thiết kế xây dựng là sản phẩm “chất xám” đƣợc thể hiện trên các bản vẽ thiết kế, quy hoạch của các dự án và sản phẩm này liên quan đến nhiều bộ môn khoa học, mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội, nghệ thuật và quốc phòng, đồng thời mang nhiều 9 z tính chất cá biệt, đa dạng về công dụng, cách thức cấu tạo và phƣơng pháp chế tạo. Khả năng áp dụng công nghệ thông tin vào việc thiết kế và gắn chặt thiết kế với xây dựng và kinh doanh là đặc điểm cơ bản của ngành nghề này hiện nay, trong nền kinh tế thị trƣờng và xu hƣớng hội nhập quốc tế. Ngoài ra, sản phẩm của tƣ vấn thiết kế xây dựng còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, phong tục, tập quán, khí hậu, truyền thống… của từng địa phƣơng cụ thể, nơi tiến hành hoạt động xây dựng.
Điều này đòi hỏi CBTVTKXD ngoài nắm chắc kiến thức chuyên môn của mình còn phải có những kiến thức tổng hợp liên quan sâu rộng. - Khoa học công nghệ có ảnh hƣởng lớn đến hoạt động tƣ vấn thiết kế xây dựng. Sự phát triển công nghệ mới, tiên tiến của ngành xây dựng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay là một đòi hỏi lớn đối với tƣ vấn thiết kế xây dựng. Tƣ vấn phải nắm vững, tìm đƣợc công nghệ mới, tiên tiến, phù hợp về mặt tự nhiên, môi trƣờng, xã hội nhƣng vẫn đảm bảo tính kinh tế, kỹ thuật theo yêu cầu của chủ đầu tƣ trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài, đồng thời, cũng phải phù hợp với các tiêu chuẩn trong nƣớc và quốc tế.
- Do có vai trò quan trọng và sự ảnh hƣởng lớn của hoạt động tƣ vấn thiết kế xây dựng đối với các nhà đầu tƣ và xã hội nên để đảm bảo hiệu quả đầu tƣ đồng thời hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tƣ và xã hội thì nghề tƣ vấn thiết kế xây dựng phải là nghề kinh doanh có điều kiện; để đƣợc hành nghề thì ở từng vị trí cụ thể, CBTVTKXD cần phải đáp ứng đƣợc những yêu cầu nhất định nhƣ: có bằng cấp chuyên môn, có chứng chỉ hành nghề phù hợp và phải có một số năm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nhất định với số lƣợng công trình tham gia phải đủ lớn. Tổ chức, cơ cấu, chức danh của nguồn nhân lực bị quy định bởi hệ thống công việc, nhiệm vụ hoạt động của nó. Ở từng vị trí cụ thể trong mỗi dự án, 10 z mỗi CBTVTKXD có những nhiệm vụ riêng, có thể thấy qua sơ đồ quá trình thực hiện một sản phẩm tƣ vấn thiết kế xây dựng tại công ty Thikeco nhƣ sau: (1) Đƣa nhiệm vụ Chủ đầu tƣ (Do thiết kế, quyết định Nhà thầu thiết kế (Công đƣợc sự cho phê duyệt chủ ty Tƣ vấn thiết kế, đại phép của pháp trƣơng đầu tƣ xây diện là Tổng Giám đốc luật) dựng và tài liệu Công ty) liên quan đến dự án (5) Duyệt và thông (2) Giao báo chấp nhận nhiệm vụ tƣ phƣơng án vấn thiết kế (4) Xây dựng phƣơng án bằng CNDA (3) Giao GDDA bản vẽ thiết kế nhiệm vụ (theo nhiệm vụ thiết kế thiết kế), thuyết (6) minh phƣơng án Giao sau khi đã trình việc GDDA duyệt (9) Duyệt và (7) Giao việc KBM CTBM KSTH gửi sản phẩm (8) Thiết kế và thiết kế giao sản phẩm thiết kế (10) Duyệt và trình Trong đó: nhiệm vụ thiết kế gồm: duyệt Quy mô công trình; Các yêu cầu công năng, công nghệ; kinh phí thực hiện; các yêu cầu khác. CNDA, GDDA, GĐ Công ty Hình 1.1: Sơ đồ quá trình thực hiện một sản phẩm tƣ vấn xây dựng 11 z Trong đó, quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể của từng chức danh nhƣ sau: * Giám đốc dự án GĐDA là thành viên trong Ban giám đốc Công ty, do Giám đốc Công ty chỉ định hoặc là cá nhân đƣợc Giám đốc Công ty ủy quyền.
GĐDA có trách nhiệm đảm bảo toàn bộ công việc đƣợc hoàn thành đúng thời gian và đúng yêu cầu chất lƣợng theo yêu cầu của khách hàng hoặc bên ủy quyền trên cơ sở bị ràng buộc về vốn và nguồn lực đã định sẵn. GĐDA chịu trách nhiệm trƣớc Giám đốc Công ty, trƣớc khách hàng và pháp luật về chất lƣợng và tiến độ của dự án. GĐDA là đầu mối của Công ty trong việc giao dịch với khách hàng.