Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng các chính sách marketing trong doanh nghiệp du lịch. Thực trạng xây dựng chính sách marketing cho du lịch nội dia tại công ty cổ phần du lịch Đà Nẵng Danatours. Xây dựng chính sách marketing cho du lịch nội địa tại công ty tần du lịch Đà Nẵng - Danatours.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã tham khảo một số tài liệu liên quan đến công tác xây dựng chính sách marketing tại một số doanh nghiệp và công, ty đã nghiên cứu trước đây, đó là các luận văn được thực hiện tại trường đại học kinh tế Đà Nẵng trong 3 năm gần đây, bao gồm: “Xây dựng chính sách marketing mix trong hoạt động tín dụng tại chỉ nhánh ngân hàng đâu tư và phát triển Quảng Ngãi ”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Tác giả Nguyễn Vÿ, Năm 2008, Người hướng dẫn khoa học TS. Đoàn Gia Dũng. “Phát triển loại hình du lịch MICE trên địa bàn TP Đà Nẵng ", Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Tác giả Cao Thị Cảm Hương, Năm 2009, Người hướng dẫn khoa học TS. Lâm Minh Châu.
“Xây dựng chính sách marketing cho cảng Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Tác giả Lê Hồng Nam, Năm 2010, Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Trường Sơn. “Phát triển sản phẩm du lịch tàu biển tại công ty Lữ hành Vitours”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Tác giả Phạm Tường Hung, Nam 2011, Người hướng dẫn khoa học TS. Sau khi tham khảo các tài liệu trên, tác giả rút ra được các kết quả sau: ~_ Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu, tổng hợp khá day đủ hệ thống những lý thuyết cơ bản về marketing dịch vụ, marketing du lịch và marketing du lịch địa phương. Đặc biệt là chính sách marketing trong du lịch gồm 7P: sản phẩm, giá cả, phân phối, truyền thông cổ động, con người, bằng chứng vật chất và quy trình.
~ Thứ hai, các nghiên cứu trước đây đã phân tích và tổng hợp được tỉnh hình hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cụ thể. trên địa bàn TP Đà Nẵng nói riêng. ~ Thứ ba, các nghiên cứu đã chỉ ra một số loại hình du lịch đã và đang có khả năng phát triển trên địa bản khu vực cũng như trên cả nước. Tuy nhiên, một số vấn đề mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến và chưa giải quyết được là : ~ Thứ nhất, các đề tài nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên cứu các chính sách marketing nhằm phát triển các loại hình du lịch đặc thù phục vụ đối tượng khách quốc tế đến du lịch tại Việt Nam chứ chưa thực hiện các nghiên cứu cụ thể về tình hình du lịch khu vực thị trường nội dia - Thứ hai, các nghiên cứu chỉ tập trung phân tích của một đơn vị cụ thể đối với một loại hình du lịch cụ thể hoặc nghiên cứu tình hình phát triển của một loại hình du lich cụ thể đối với một địa phương cụ thể chứ chưa nghiên cứu các loại hình khác nhau đối với một loại đối tượng khách hàng.
Vì vậy, đề tài “Xây dựng chính sách marketing cho du lịch nội địa tại công ty cỗ phần du lịch Đà Nẵng Danatours” sẽ góp phần hoàn thiện chính sách marketing du lịch nội địa tại công ty Danatours, đóng góp vào sự phát triển của các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn TP Đà Nẵng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1. TONG QUAN VE DU LICH 1. Các khái niệm có liên quan * Du lịch Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành năm 1999: “Du lich là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn những nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
* Khách du lịch "Khách du lịch là người đi du lich hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp. đi học, làm việc hoặc hành nghề đề nhận thu nhập nơi đến”. Khách du lịch bao gồm: khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. *Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thỏ Việt Nam” “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch (gọi là khách quốc tế chủ động - Inbound touris); công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (gọi là khách quốc tế bị động - Outbound tourist)”.
* Du lịch nội địa Du lich nội địa là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của chuyến đi nằm trong lãnh thổ của một quốc gia. Các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch * Kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt động: nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo hay bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. * Kinh doanh khách sạn Kinh doanh khách sạn được hiều là “Làm nhiệm vụ tổ chức việc đón tiếp, phục vụ việc lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, bán hàng cho khách du lịch”. * Kinh doanh vận chuyển khách du lịch Kinh doanh vận chuyền là hoạt động kinh doanh, nhằm giúp cho khách du lịch chuyển từ nơi cư trú của mình đến điểm du lịch cũng như là dịch chuyên tại điểm du lịch.
Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau như ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay. * Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác Ngoài các hoạt động kinh doanh nêu trên, trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch còn có một số hoạt động kinh doanh bồ trợ, như kinh doanh các. loại hình dịch vụ vui chơi giải trí, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tư vấn đầu tư du lịch.MARKETING DU LỊCH 1. Khái niệm về marketing du lịch Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đối.
Marketing du lịch thực chất là một nhánh của marketing được áp dụng cụ thể vào các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Theo quan điểm của tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì “Marketing du lịch là một triết lí quản trị mà nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển chọn dựa trên nhu cầu của du khách nó có thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp với mục đích của tổ chức du lịch đó ". Nội dung hoạt động của marketing du lịch phụ thuộc vào chức năng của từng chủ thể và từng cấp độ khác nhau. Ở cấp quốc gia: hoạt động marketing du lịch chủ yếu hướng về chiến lược về thị trường du lịch, sản phẩm du lịch và xúc tiến thu hút khách trên cơ sở quy hoạch phát triển du lịch của quốc gia địa phương.
Ở cấp địa phương: hoạt động marketing tập trung vào dự báo cung cau, định hướng sản phẩm, truyền thông marketing (tuyên truyền, quảng cáo, quan hệ công chúng). Ở cấp doanh nghiệp: hoạt động marketing dựa vào phân đoạn thị trường, chọn thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm để triển khai các chính sách marketing phù hợp với từng đoạn thị trường mục tiêu. Vai trò của marketing du lịch Marketing du lịch đưa du khách đến với sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách và đạt được mục tiêu của tô chức là thu về lợi nhuận (vì sản phẩm du lịch ở xa khách hàng và cố định nên những đơn vị cung ứng du lịch phải tìm cách đưa khách hàng đến với sản phẩm). Với bản chất là thoả mãn nhu câu thì các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch cần đến marketing như là công cụ đắc lực nhất để thực hiện mục tiêu cuối cùng của tổ chức mình.
Tính vô hình của du lịch làm cho người tiêu dùng khó đánh giá được chất lượng dịch vụ nhưng marketing du lịch có thể mang lại sức hấp dẫn của dịch vụ, tăng cường tính cụ thể cho các dich vụ du lịch Marketing du lịch bao gồm hệ thống các giải pháp hướng về khách hàng, chăm sóc và phục vụ khách hàng. Điều đó tạo nên sự khác biệt giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ du lịch. Trong xu thế phát triển của nhu cầu thị trường về các dịch vụ du lịch, uy tín và hình ảnh của các tổ chức cung cấp dịch vụ du lịch có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp. Do đó, marketing du lịch giúp khách hàng hiểu được giá trị thương hiệu và vị thế của các nhà cung cấp.
Nhu vay, marketing có vai trỏ rất lớn trong việc nâng cao khả năng thu hút khách hàng, nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên thị trường. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG MARKETING 1. Môi trường marketing. Môi trường marketing là tập hợp những tác nhân, lực lượng bên ngoài bộ phan marketing của doanh nghiệp, có khả năng tác động đến hoạt động marketing của doanh nghiệp.
Môi trường marketing bao gồm : Môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. Môi trường vĩ mô: Là những tác nhân, lực lượng bên ngoài có tính chất xã hội rộng lớn hơn có khả năng tác động đến doanh nghiệp và cả những tổ chức thuộc môi trường vi mô của doanh nghiệp. Đó là các yếu : dân số, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, pháp luật và văn hóa. Môi trường vi mô: Là những lực lượng bên ngoải có tác động qua lại, trực tiếp tới doanh nghiệp và khả năng phục vụ khách hàng của doanh nghiệp.
Môi trường vĩ mô a. Môi trường dân số Bao gồm những yếu : quy mô dân số, mật độ dân số, tuôi tác, giới tính, chủng tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp. Môi trường dân số là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến các yếu tố khác của môi trường vĩ mô. thay đổi trong môi trường dân số sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội, từ đó ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trường kinh tế Bao gồm các yếu tố: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát. Môi trường kinh tế chỉ bản chất, mức độ tăng trưởng và định hướng phát triển của nền kinh tế trong đó doanh nghiệp hoạt động. Phân tích môi trường kinh tế có ý nghĩa quan trọng, bởi nó tác động đến khả năng.