Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thong marketing Chương 2: Thực trạng xây dựng chương trình truyền thông tại Ngân hàng TMCP ABBank~ Chỉ nhánh Đà Nẵng Chương 3: Xây dựng chương trình truyền thông tại Ngân hàng TMCP An Bình - Chỉ nhánh Đà Ning 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu tác giả dựa trên cơ sở tham khảo từ một số sách cũng như luận văn đã nghiên cứu tại trường Đại học kinh tế Đà Nẵng đã được bảo vệ từ năm 2011 đến 2012, dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của những để tài đó và trên cơ sở tham khảo từ nhiều nguồn tải liệu, sách tham khảo chủ yếu là của các tác giả trong nước tại các trường đại học (Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Quốc Dân. , tác giả đã chọn lọc để n hành nghiên cứu này. - Theo Trinh Quốc Trung (2008), Marketing ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê Tp HCM đề cập đến những nội dung của việc ứng dụng các nguyên tắc, quy luật của marketing công nghiệp vào hoạt động của một lĩnh vực có tính đặc thù hướng đến việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng về dịch vụ tài chính, cách thức khách hàng lựa chọn, quyết định và sử dụng các sản phẩm do.
các ngân hàng cung cấp. Nghiên cứu thị trương cũng là chức năng quan trọng. nhất trong quá trình ứng dụng marketing vào hoạt động kinh doanh ngân hàng vì hoạt động marketing chỉ có thể thành công trên nên tảng của những thông tin tốt nhất làm cơ sở đề các nhà quản trị ra các quyết định liên quan đến hoạt động marketing. Hoạt động nghiên cứu thị trường như một công cụ marketing, vai trò và những cách thức tiền hành nghiên cứu thị trường - Theo PGS.
Trương Đình Chiến (2010), Quản trị marketing, Nhà Xuất bán kinh tế quốc dân trình bày bản chất và khái niệm marketing, nêu lên được bản chất, đặc điểm, phạm vị, chức năng nhiệm vụ của quản trị marketing. Cuốn sách cũng nêu lên được bản chất, chức năng của hoạt động truyền thông marketing tích hợp; làm rõ đặc điểm của từng công cụ truyền thông trong chương trình truyền thông marketing tích hợp; đề cập đến phương thức sử dụng các công cụ truyền thông phi các nhân như quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng từ đó tác giả tìm hiểu, vận dụng, kế thừa các lý luận làm cơ sở nghiên cứu của đề tài. - Đề tài “Chiến lược marketing tại báo Thanh Niên”, tác giả Hồ Xuân Mai, do cán bộ hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Xuân Lăn, thực hiện năm 201 1 ~ Đề tài “Chiến lược marketing tại Hội An Beach resort, tác giả Huỳnh Thị Phương Giang, do cán bộ hướng dẫn khoa học TS.
Lê Văn Huy, thực hiện năm 2012 - Đề tài “Hoàn thiện chính sách marketing tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định, do PGS.TS Nguyễn Trường Sơn hướng dẫn, năm 2012 Những đề tài trên các tác giả đã sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp phân tích, tông hợp, so sánh để phân tích và đánh giá các kết quả số liệu thống kê trong quá khứ từ đó rút ra những ưu điểm, nhược điểm, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để làm cơ sở đưa ra chiến lược marketing sản phẩm tại doanh nghiệp. Những đề tài trên đã hệ thống hóa các vấn dé cơ sở lý luận liên quan đến xây dựng chương trình truyền thông marketing tại các đơn vị, phân tích khá kỹ thực trạng hoạt động tại các đơn vị và từ đó đưa ra những giải pháp khá toàn diện để xây dựng chiến lược marketing nhằm giúp các doanh nghiệp. có cái nhìn đầy đủ và tông quát hơn về việc cần thiết phải xây dựng chiến lược marketing cho hoạt động của doanh nghiệp mình. Kế thừa những thành quả của những công trình trên, tác giả sẽ tiếp tục đi sâu phân tích làm rõ hơn nữa phân tích về vai trò bản chất của các chương trình truyền thông marketing, phân tích kỳ môi trường marketing, chỉ ra được.
những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc xây dựng chương trình truyền thông marketing tại Ngân hàng TMCP An Bình - Chi nhánh Đà Nẵng, qua đó có cơ sở để xây dựng, hoàn thiện chương trình truyền thông marketing cho Ngân hàng TMCP An Bình - Chỉ nhánh Đà Nẵng Ngoài ra tác giả còn tham khảo một số tài liệu khác trên internet như: www .com; Thời báo kinh tế Sài Gòn, Tạp chí kinh tế và dự bị Tác giả đã tham khảo tài liệu Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh năm 2012 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh doanh năm 2013 tại Ngân hàng TMCP An Bình - chỉ nhánh Đà Nẵng. Dựa trên cơ sở lý luận về chương trình truyền thông marketing nêu trong chương một và những mặt còn hạn chế của ngân hàng, trong chương ba tác giả tập trung xây dựng chương trình truyền thông marketing cho ngân hàng trong thời gian đến. Để thực hiện nghiên cứu trong chương này tác giả trình bày một số căn. cứ để làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình truyền thông marketing tại ngân hàng TMCP ABBank - Chỉ nhánh Đà Nẵng, cụ thể: ~ Căn cứ vào phân tích môi trường bên ngoài và phân tích môi trường bên trong của ngân hàng từ đó xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ đo môi trường mang lại đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiện nay.
- Căn cứ vào viễn cảnh, sứ mệnh, mục tiêu hoạt động kinh doanh và mục tiêu các chương trình truyền thông marketing ngân hàng. Từ những căn cứ trên, tác giả đã xây dựng chương trình truyền thông marketing tại ngân hàng với mục tiêu: đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu với chất lượng và dịch vụ đi kèm cao nhất cho khách hàng, thu hút khách hàng, gia tăng thị phần, tiết kiệm chỉ phí, gia tăng doanh thu và lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRUYEN THONG MARKETING 1. KHAI QUAT VE MARKETING, TRUYEN THONG MARKETING 1.
Khái niệm marketing và truyền thông marketing Trong lĩnh vực kinh doanh “Marketing là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu thông qua quá trình trao đồi, giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”. Hiệp hội Marketing Mỹ định nghĩa “Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các quyết định về sản phẩm, định giá, xúc tiến và phân phối cho các hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đôi nhằm thỏa mãn các mục tiêu cá nhân và tô chức” [4, tr.8] Các khái niệm marketing luôn được cập nhật mới cho phù hợp với điều kiện mới, do đó Hiệp hội marketing Mỹ đưa ra khái niệm mới: “Marketing là chức năng quản trị của doanh nghiệp, là quá trình tạo ra, truyền thông và phân phối giá trị cho khách hàng và là quá trình quản lý quan hệ khách hàng theo cách đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp” “Marketing là tập hợp các hoạt động, cấu trúc cơ chế và quy trình nhằm tạo ra, truyền thông và phân phối những thứ có giá trị cho người tiêu dùng, khách hàng, đối tác và xã hội nói chung”. Một cách tông quát, Marketing là quá trình xã hội nhờ đó các tổ chức hoặc cá nhân có thể thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua việc tạo ra và trao đổi những thứ có giá trị với những người khác. Theo Philip Kotler, truyền thông marketing là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm và mua sản phẩm của doanh nghiệp.
Truyền thông marketing có các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở đối tượng nhận tin về sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp. Qua các nội dung thông điệp, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của doanh nghiệp, sản phẩm trên thị trường, thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu cầu. Vai trò của truyền thông marketing đối với ngân hàng Vai trò của truyền thông là tạo điều kiện cho ngân hàng tiếp cận trên diện rộng đến khách hàng thông qua việc thông tin và giáo dục người nghe nhằm đạt được sự nhận biết cao hơn của khách hàng về ngân hàng và sản phẩm, dịch vụ do ngân hàng cung cấp. Cụ thể như: - Giành được khách hàng Gianh được khách hàng là hoạt động chủ yếu trong kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào và ngân hàng cũng không có ngoại lệ.
Một doanh nghiệp hoặc ngân hàng không thể hy vọng tồn tại vĩnh viễn với cùng một khách hang vì sẽ có lúc nhu cầu của khách hàng vượt quá mức hữu ích của sản phẩm có thể cung cấp cho khách hàng hoặc yêu cầu của sản phẩm vượt quá nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, cho dù xảy ra trường hợp nào nói trên đi nữa thì việc các ngân hàng tìm được những khách hàng mới sẽ là điều rất quan trọng đối với việc duy trì mức độ kinh doanh hiện tại trong thời gian dài.517] Khách hàng mới của ngân hàng có thể bắt nguồn từ một trong hai nguồn chủ yếu. Nguồn thứ nhất của khách hàng mời là những khách hàng mới thực sự - mới bước vào giai đoạn đầu của vòng đời phù hợp với sản phẩm do ngân hàng cung cấp- khách hàng này được xem là một cơ hội kinh doanh hoàn toàn mới. Những khách hàng mới có thể không mới đối với thi trường nhưng chỉ đơn thuần là mới đối với chính ngân hàng và họ có được những khách hàng mới này bằng cách giành giật trong tay các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường.
Hoạt động truyền thông marketing đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng, phát triển sự nhận thức của khách hàng mới về ngân hàng và sản phẩm ngân hàng cũng như cung cấp những thông tin ban đầu về những lợi ích chủ yếu, cơ bản so với các đối thủ cạnh tranh khi khách hàng muốn “nhảy cóc” để tìm kiếm những cơ hội tốt hơn cho mình trong việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ do các ngân hàng và các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng khác có thể cung cấp.518] - Duy trì khách hàng: Giành được khách hàng mới hoàn toàn hoặc mới đối với ngân hàng là một điều rất quan trọng và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển trong dài hạn của mình cũng không được bỏ qua hoặc hạ thấp giá trị của những khách hàng, hiện có của ngân hàng.