Chương 1: Cở sở lý luận về tạo động lực làm việc Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ viên chức tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi Kon Tum Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho cán bộ viên chức tại 'Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi Kon Tum. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIEC 1. MOT SO NGUYÊN LÝ VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Nhu edu Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu củ hau hét ngành khoa học nghiên cứu sinh học cũng như xã hội.
Vấn đề về nhu cầu đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập và nghiên cứu. Có thể nói nhu cầu là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bắt kì sinh vật nào, hoặc ở bắt kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức. tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh.
Chính tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Marshall viết rằng: "Không có số để đếm nhu cầu và ước muén" [6]. Từ xa xưa, Aristotle đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: :hể. xác và linh hôn [6].
Sự phân loại nảy mang tính ước lệ lớn nhưng nó anh hưởng đến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu cầu thành "như: câu vật chất" và "như cầu tỉnh thằn". Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định Theo “Bai giảng môn Tâm lý xã hội học lao động” của TS. Bùi Thị Xuân Mai có định nghĩa Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội. Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cẩu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống.
Nhu cầu tổn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự; Nhu cầu đạt mục đích sống có bốn nhóm: 1) giàu có vật 2) quyền lực và danh vọng: 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tỉnh thin, Tay vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên 10 thể hiện nổi trội. Có thể trong một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời. [6] Tóm lại, nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển. Nhu cầu thường là đòi hỏi đi từ thấp đến cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dang, thay đổi theo bối cảnh.Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu có thể được nhóm thành 2 nhóm là nhu cầu vé vét chat va nhu cau vé tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người, việc thỏa mãn chúng phụ thuộc vào thù lao tài chính, thù lao tài chính càng cao thì mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất cảng cao. Nhu cầu tỉnh thần gắn liễn với tạo động lực thỏa mãn về tâm lý. Tùy thuộc vào từng loại công việc, cách ứng xử của nhà quản lý và tập thể lao động mà mức độ thỏa mãn các nhu cầu tỉnh thần có thể khác nhau.
Động lực Khai iệm động cơ Đông cơ được hiểu một cách đơn giản là cái mà chúng ta đang cẳn, đang, bức xúc. Từ động cơ sẽ dẫn đến hành động và ngược lại khi bạn hoặc người khác hành động một điều gì thì sau nó ắt hẳn phải có động cơ thúc đẩy. Ngoài ra, động cơ cũng chính là nguồn gốc của mọi sự động viên. Chỉ khi hiểu được một người sống và hành động vì mục đích gì thì chúng ta mới có thể đưa ra những giải pháp khích lệ phủ hợp cho họ.
« Khái niệm động lực Nghiên cứu động lực hoạt động của con nguười đã được thực hiện từ rất lâu trong lịch sử tâm lý học. Bằng các cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các nhà tâm lý học đã tìm cách lý giải tại sao con người có thể thực hiện được. hành vi nào đó, tại sao hoạt động của anh ta có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc ngưng lại đúng lúc. " Theo từ điển Tiếng Việt: “Động lực được hiểu là cái thúc đây, làm cho phát triển".
Nhà nghiên cứu Mitchell cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn đề gắn kết các hành vi của mình. Cũng nghiên cứu về động lực, nhà nghiên cứu Bolton đưa ra quan điểm: “Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các. cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu”. Tap chi British Journal of Educational Psychology dinh nghia: “Dong lực là ly do để thực hiện hành vi” Tạp chí Family and Consumer Seiences viết "Đông lực là cái thúc đây con người làm hoặc không làm một điều gì đớ” Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: "Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động”.
Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tổ này luôn thay đổi và tương đối là khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba nhóm yếu tố cơ bản là: ~ Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong. chính bản thân con người thúc đây con người làm việc. ~ Những nhân tố thuộc môi trường.
~ Những yếu tổ thuộc về nội dung bản chất công việc. Động lực lao động. “Động lực lao động là động cơ có ý thức hay vô thức khơi gợi và hướng. hành động và việc đạt được mục tiêu mong đợi”.
Như vậy, để tạo động lực cho ai đó thực hiện gi, bạn phải lâm cho người đó muốn làm việc đó chứ không phải bị buộc phải làm. 12 Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, có gắng từ chính bản thân mỗi cán bộ viên chức mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để cán bộ viên chức có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tô chức. Vì vậy “Động lực lao động là sự khao.
khát, tự nguyện của cán bộ viên chức để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [5, tr.128] Động lực lao động không xuất phát từ bất kỳ sự cưỡng chế nào, không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính. Động lực lao động không biểu hiện qua lời nói mả qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của cán bộ viên chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực trong. hoạt động đồng thời trong bản thân mỗi người và trong môi trường sống, làm việc.
Do vậy, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức, các chính sách cán bộ viên chức của tổ chức và cách thức triển khai thực hiện hiện các chính sách. Các yếu tố thuộc về cá nhân cán bộ viên chức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cho chính họ như nhu cẩu, mục đích, các giá trị, lý tưởng, hoài bão, các kế hoạch trong tương lai. Voi những cách hiểu như trên, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: “Động lực lao động là những nhân tô bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sảng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm.
đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân cán bộ viên chức ” [4, tr. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính. bản thân mỗi cán bộ viên chức mà ra. Mi vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực đề cán bộ viên chức có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.
Tạo động lực làm việc Giáo trình Quản trị Cán bộ viên chức viết : “Tao động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tô chức, của các nhà quản lý nhằm. tạo ra sự khao khát và tự nguyện của cán bộ viên chức cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tỉnh thần, còn cách ứng xử của tổ chức được thể hiện ở việc tổ chức đó đối với cán bộ viên chức nhu thé nao. Như vậy, tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới cán bộ viên chức nhằm làm cho cán bộ viên chức có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, đơn vị.
Vấn dé tao động lực lao động chủ yếu là vẫn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Vậy thì tổ chức sẽ phải đưa ra các chính sách nào để thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên? Tùy từng tổ chức, với khả năng và nguồn lực của mình mà xem xét áp dụng những cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tại động lực cho cán bộ viên chức trong tổ chức đó 1. MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỌNG LỰC 1. Một số huyết về tạo động lực a.
Thuyét như cầu của MeClelland's (1988) David Mc. Clelland (dẫn theo Robbins, 2002) cho rằng con người có ba nhu cầu cơ bản là: nhu thành tựu, nhu liên minh và nhu cầu quyền lực. Trong đó: Nhu cầu thành tựu Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại.
Họ muốn cảm. thấy rằng thành công hay thất bại của họ là do kết quả của những hành động, của họ. Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính thách thức.